Khi nào áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án dân sự từ 01/7/2026? Thu nhập gồm gì?
Căn cứ tại Điều 76 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định về trừ vào thu nhập của người phải thi hành án như sau:
Thu nhập của người phải thi hành án gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.
Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Theo thỏa thuận của đương sự;
- Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
- Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
Khi khấu trừ, Chấp hành viên phải để lại số tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quyết định của cơ quan thi hành án dân sự.

Khi nào áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án dân sự từ 01/7/2026? Thu nhập gồm gì? (Hình từ Internet)
Quy định về áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập từ 01/7/2026 như thế nào?
Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập phải tuân thủ đúng quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau:
(1) Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.
(2) Căn cứ ra quyết định cưỡng chế thi hành án:
- Bản án, quyết định;
- Quyết định thi hành án;
- Người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án.
(3) Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:
- Tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản;
- Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;
- Người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan;
- Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
(4) Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế thi hành án khi có quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc bản án, quyết định đã tuyên kê biên tài sản.
(5) Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
(6) Trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì thực hiện như sau:
- Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế và các nội dung khác theo quy định của pháp luật;
- Cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xây dựng kế hoạch bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.
Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội;
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phê duyệt kế hoạch cưỡng chế và gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.
(7) Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho đương sự biết ít nhất 02 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay.
Nguyên tắc thi hành án dân sự từ 01/7/2026 là gì?
Căn cứ tại Điều 4 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định về nguyên tắc thi hành án dân sự như sau:
- Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, trong phạm vi trách nhiệm của mình, chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp và thực hiện các quyết định về thi hành án, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên.
- Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án.
Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật này.
- Lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
- Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Trường hợp người đó là người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt hoặc là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn thì cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự phải bố trí hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền bố trí phiên dịch.
- Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thừa hành viên hoặc có các hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];