Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh?

Nguyễn Văn Phước Độ 3,023 lượt xem
08:00 | 08/10/2025
Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh?
Nội dung chính
  1. Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh?
  2. Cựu chiến binh là ai?
  3. Chính sách đối với Cựu chiến binh là gì?

Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh?

Ngày 03/10/2025, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận 196-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW năm 2002 của Bộ Chính trị và Kết luận 66-KL/TW năm 2010 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh Việt Nam trong tình hình mới.

>> Tải về Toàn văn Kết luận 196-KL/TW

Theo Kết luận 196-KL/TW năm 2025, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW năm 2002 và Kết luận 66-KL/TW năm 2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh trong tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo, thực hiện tốt một số nội dung nhiệm vụ, giải pháp đáng chú ý như sau:

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và nhân dân về công tác tập hợp, đoàn kết, phát huy vai trò của Hội Cựu chiến binh Việt Nam trong tình hình mới.

- Tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên hội cựu chiến binh, cựu quân nhân và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần lao động sáng tạo và học tập suốt đời, gương mẫu đi đầu tham gia phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế.

Xây dựng, phát triển lực lượng hội viên nòng cốt, người có uy tín để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, định hướng tư tưởng cho cựu chiến binh, cựu quân nhân và nhân dân.

- Phòng ngừa, ngăn chặn tư tưởng, biểu hiện tiêu cực trong hội viên cựu chiến binh, cựu quân nhân; việc lợi dụng hình ảnh cựu chiến binh vào mục đích xấu. Tạo điều kiện để hội viên cựu chiến binh, cựu quân nhân phát hiện, phối hợp ngăn chặn và xử lý âm mưu, hành động chống phá, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhân dân.

- Lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam định kỳ hằng năm hoặc đột xuất làm việc với Hội Cựu chiến binh để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc. Phát huy vai trò, tiềm năng, thế mạnh của Hội Cựu chiến binh, nhất là phát huy trí tuệ, bản lĩnh trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội; góp ý xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Tiếp đến, mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh từ nguồn cựu quân nhân, sĩ quan dự bị đủ điều kiện.

- Kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của Hội. Phát triển tổ chức và hoạt động của Hội trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đa dạng hóa phương thức, mô hình tập hợp cựu chiến binh, cựu quân nhân.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội ở các cấp bảo đảm chất lượng, thật sự có uy tín, tâm huyết, trách nhiệm, trưởng thành qua môi trường quân đội; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, có chính sách đặc thù đối với cán bộ hội có đủ điều kiện tham gia cấp ủy cơ sở, cơ quan dân cử các cấp. Tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao trình độ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hội.

- Có chế độ, chính sách phù hợp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với hội viên cựu chiến binh, cựu quân nhân, về đào tạo nghề, hỗ trợ, tạo việc làm cho quân nhân sau khi xuất ngũ. Vận động nguồn lực giúp đỡ hội viên cựu chiến binh, cựu quân nhân có hoàn cảnh khó khăn. Phối hợp với Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ để đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ hoạt động.

- Hỗ trợ các doanh nhân, doanh nghiệp của cựu chiến binh thực hiện chuyển đổi số, chuyển giao khoa học công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế, phát triển thị trường, liên doanh, liên kết, phát triển du lịch, dịch vụ, đầu tư, sản xuất, kinh doanh… góp phần hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh?

Toàn văn Kết luận 196-KL/TW mở rộng đối tượng kết nạp, phát triển hội viên hội cựu chiến binh? (Hình từ Internet)

Cựu chiến binh là ai?

Căn cứ theo Điều 2 Nghị định 150/2006/NĐ-CP được bổ sung bởi điểm a, b khoản 1 Điều 1 Nghị định 157/2016/NĐ-CP quy định về đối tượng được công nhận là Cựu chiến binh như sau:

Cựu chiến binh theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, cụ thể như sau:

(1) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng Tháng 8 năm 1945 như Đội tự vệ đỏ, du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và các đơn vị vũ trang khác do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.

(2) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 gồm sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước (ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

(3) Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc quy định tại khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 gồm:

- Đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm ở miền Bắc từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 về trước (ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương);

- Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27 tháng 01 năm 1973 trở về trước (ngày ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc), đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.

- Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích ở miền Nam từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước, đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu theo sự quản lý, phân công hoặc giao nhiệm vụ của tổ chức, cơ sở cách mạng có thẩm quyền

(4) Công nhân viên quốc phòng quy định tại khoản 4 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 về trước.

(5) Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 5 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 gồm:

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam đã tham gia chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã phục viên, nghỉ hưu, chuyển ngành.

(6) Những đối tượng quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và Hội Cựu chiến binh Việt Nam năm 2005 và được cụ thể tại (1), (2), (3), (4), (5) không được công nhận là Cựu chiến binh trong các trường hợp sau:

- Người đầu hàng địch; phản bội; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; công nhân viên quốc phòng bị kỷ luật buộc thôi việc;

- Người bị kết án tù mà chưa được xoá án tích.

(7) Việc xác nhận cựu chiến binh:

- Việc xác nhận Cựu chiến binh được căn cứ vào hồ sơ khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, xuất ngũ, phục viên, nghỉ hưu tại địa phương, do cơ quan quân sự xã, phường, thị trấn nơi Cựu chiến binh đang cư trú chủ trì, phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xác nhận;

- Trường hợp hồ sơ bị thất lạc, việc xác nhận là Cựu chiến binh do cơ quan quân sự cấp xã nơi họ nhập ngũ phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xem xét xác minh lời khai của họ và lập danh sách để Ủy ban nhân dân nơi họ nhập ngũ xác nhận;

- Việc xác nhận là Cựu chiến binh trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ vào hồ sơ khi tiếp nhận Cựu chiến binh về cơ quan, tổ chức, đơn vị và do cơ quan, tổ chức, đơn vị đó xác nhận.

(8) Việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện theo quy định của Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Chính sách đối với Cựu chiến binh là gì?

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 150/2006/NĐ-CP quy định về chính sách đối với Cựu chiến binh như sau:

(1) Cựu chiến binh được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật hiện hành.

(2) Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp tiền, tài sản để đầu tư xây dựng nhà tình nghĩa, cơ sở dịch vụ chăm sóc, trung tâm điều trị và phục hồi sức khoẻ, câu lạc bộ văn hoá, thể thao, thể dục dưỡng sinh đối với Cựu chiến binh và tài trợ cho các hoạt động giúp đỡ Cựu chiến binh ở cộng đồng dân cư hoặc trung tâm điều trị, phục hồi sức khoẻ.

(3) Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và công dân căn cứ vào điều kiện cụ thể hỗ trợ Cựu chiến binh tổ chức tham quan du lịch, nghỉ ngơi, điều dưỡng.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Văn hóa - Xã hội Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Quy định 366 và Hướng dẫn 43 về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên kèm phụ lục biểu mẫu như thế nào?

Quy định 366-QĐ/TW và Hướng dẫn 43-HD/BTCTW quy định, hướng dẫn việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, trong đó có đảng viên. Vậy quy định về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên thực hiện như thế nào và sử dụng những phụ lục, biểu mẫu nào?