- Toàn văn Công văn 519/TTg-PL về tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhất 2026 chi tiết?
- 07 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì?
- Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Toàn văn Công văn 519/TTg-PL về tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhất 2026 chi tiết?
Ngày 15/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn 519/TTg-PL năm 2026 về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 519/TTg-PL năm 2026

Theo đó, để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm túc, hiệu quả những nhiệm vụ sau:
(1) Trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, tiến độ xây dựng hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật; tổ chức lấy ý kiến, tham vấn chính sách đầy đủ các cơ quan, tổ chức liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và các chuyên gia, nhà khoa học. Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, trong đó lưu ý một số nội dung cụ thể sau:
- Chủ động rà soát, đánh giá tác động thực chất, khách quan đối với từng chính sách, đặc biệt là các chính sách mới phát sinh trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án luật; khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, đối phó.
- Về đề xuất điều chỉnh Chương trình lập pháp hằng năm: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ nghiên cứu, rà soát kỹ, bảo đảm nội dung và bố cục Tờ trình đề xuất theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025.
Đồng thời, nội dung trong Tờ trình cần bảo đảm rõ ràng, thống nhất, phù hợp với tính chất, phạm vi điều chỉnh và kết quả nghiên cứu thực tế của từng dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Thời gian trình các đề xuất điều chỉnh Chương trình lập pháp bảo đảm phù hợp với thời gian tổ chức các Phiên họp Chính phủ; việc trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bảo đảm tập trung, thống nhất, tạo thuận lợi cho các cơ quan của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong quá trình xem xét, cho ý kiến.
- Về áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025
Việc “ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất”
Chỉ áp dụng để giải quyết vấn đề thực sự cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn đối với trường hợp xây dựng luật, nghị quyết có hồ sơ được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội sau thời hạn 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội.
- Về áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn:
Chỉ áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 hoặc khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, trong đó lưu ý “vấn đề cấp bách” quy định tại khoản 2 Điều 26 và “trường hợp cấp bách” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 được hiểu là trường hợp cần phải ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa chủ trương mới của Đảng, yêu cầu, chỉ đạo mới của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó đã được cơ quan có thẩm quyền của Đảng đồng ý.
Hồ sơ dự án, dự thảo xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn phải được gửi đến các cơ quan của Quốc hội để thẩm tra chậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về việc nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết: Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo mời đại diện Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, các cơ quan có liên quan tham gia cuộc họp nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết; các cơ quan phải cử đại diện có thẩm quyền tham gia các cuộc họp và tham gia xuyên suốt quá trình để bảo đảm việc tiếp thu, chỉnh lý được liền mạch, thống nhất.
Các ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra cần được nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ, thấu đáo. Trường hợp còn có ý kiến khác nhau thì phải nêu rõ trong báo cáo của Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết.
Đối với các dự án luật, nghị quyết có nội dung khó, phức tạp, nhạy cảm hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, các bộ phải chủ động thực hiện truyền thông chính sách rộng rãi, giải trình rõ ràng, thuyết phục các điểm mới để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
- Về việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự án luật, nghị quyết:
Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tham mưu xây dựng văn bản đề Chính phủ báo cáo, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau. Trường hợp dự án được xây dựng, ban hành theo thủ tục thông thường, chậm nhất 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, hồ sơ dự án luật, nghị quyết phải được gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra để cho ý kiến đối với việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết.
Hồ sơ dự án luật, nghị quyết Chính phủ trình Quốc hội để biểu quyết thông qua gồm:
+ Báo cáo của Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết;
+ Dự thảo luật, nghị quyết đã được tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện;
+ Tài liệu khác (nếu có).
- Về việc rà soát văn bản trước khi Quốc hội thông qua:
Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện nghiêm quy định tại điểm b, c khoản 7 Điều 40 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 và Điều 21 Nghị định 78/2025/NĐ-CP( sửa đổi Nghị định 187/2025/NĐ-CP); gửi dự thảo luật, nghị quyết đến Bộ Tư pháp để thực hiện rà soát về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm mời Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Văn phòng Quốc hội (nếu có nội dung cần hợp nhất) tham gia cuộc họp; Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo phải cử Lãnh đạo Bộ phụ trách dự án luật, nghị quyết trực tiếp tham gia cuộc họp để bảo đảm đủ thẩm quyền trong việc trao đổi, thống nhất, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật, nghị quyết.
- Về rà soát văn bản sau khi được thông qua: Lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo, đại diện Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham gia rà soát luật, nghị quyết sau khi được Quốc hội thông qua theo chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
(2) Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ đôn đốc, kiên quyết tham mưu Thủ tướng Chính phủ trả lại hồ sơ hoặc không đưa vào Chương trình Phiên họp Chính phủ đối với các dự án không bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Công văn 1577/UBTVQH15-PLTP năm 2026.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tổng kết việc thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện các khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng pháp luật để đề xuất sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Xem thêm:
>>> Hướng dẫn 06/HD-BCĐ về thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 2026

Toàn văn Công văn 519/TTg-PL về tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhất 2026 chi tiết?
07 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì?
07 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 gồm:
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2) Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
(3) Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.
(4) Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.
(5) Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
(6) Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.
(7) Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Căn cứ Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 hoặc luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.
- Văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ bằng văn bản của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025.
- Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Văn bản bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
+ Sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai tổng số điều.
- Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành khác với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Trường hợp có quy định khác nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
- Văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan, người có thẩm quyền ban hành.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];