Toàn văn Chỉ thị 53-CT/TW về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ? Chỉ thị 53 của Bộ Chính trị?
Ngày 26/10/2025, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Chỉ thị 53-CT/TW năm 2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.
TẢI VỀ Toàn văn Chỉ thị 53-CT/TW năm 2025
Cụ thể, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị yêu cầu cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau:
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, xây dựng văn hoá giải trình trong hoạt động công vụ. Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, địa phương, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm giải trình; coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, là thước đo bản lĩnh, đạo đức, năng lực và tinh thần dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.
Gắn trách nhiệm giải trình với trách nhiệm nêu gương, với tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đáng, trở thành việc làm thường xuyên, từng bước hình thành văn hoá giải trình trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Quy định rõ trách nhiệm giải trình là một tiêu chí để đánh giá cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên hằng năm; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các biểu hiện né tránh, đùn đẩy, giải trình không đầy đủ, không trung thực trong hoạt động công vụ.
- Rà soát, hoàn thiện thể chế, pháp luật về thực hiện trách nhiệm giải trình, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với thực tiễn và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Sửa đổi pháp luật phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định rõ các nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của cơ quan tổ chức, cá nhân và cơ chế giám sát, xử lý các sai phạm về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.
Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền yêu cầu giải trình của báo chí, người dân, doanh nghiệp; trách nhiệm giải trình của các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động công vụ.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực, gần với mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, bảo đảm xử lý nghiêm minh, đồng bộ các vi phạm về trách nhiệm giải trình. Nghiên cứu, xây dựng Quy định về thực hiện trách nhiệm giải trình trong Đảng để bảo đảm đồng bộ, thống nhất thực hiện trong cả hệ thống chính trị.
- Nâng cao chất lượng, tạo chuyển biến rõ rệt về thực hiện trách nhiệm giải trình, gắn với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong công tác cán bộ, xây dựng chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính, tư pháp, đất đai, môi trường, quy hoạch, xây dựng, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công,...
Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy chế, quy trình, quy định của cơ quan tổ chức, đơn vị mình về trách nhiệm giải trình; tiếp nhận và kịp thời giải thích, làm rõ các vấn đề người dân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức kiến nghị, phản ánh, yêu cầu giải trình; chủ động trao đổi, đối thoại trực tiếp với người dân, doanh nghiệp để giải quyết những vấn đề bức xúc ngay từ cơ sở, không để phát sinh khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp,
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các hành vi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, chậm giải trình, giải trình không trung thực. Đưa nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm giải trình vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp.
- Phát huy và nâng cao hơn nữa vai trò giám sát của cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, báo chí về trách nhiệm giải trình của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn, giải trình tại Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; hoàn thiện cơ chế bảo vệ, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân kiến nghị, phản ánh các vi phạm trong thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ. Tăng cường giám sát chuyên đề về trách nhiệm giải trình và việc thực hiện các kiến nghị, cam kết sau giải trình, gắn với việc trả lời kiến nghị của cử tri, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trách nhiệm giải trình, bảo đảm kết nối, liên thông từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng cổng thông tin điện tử chuyên biệt để phục vụ giải trình và tiếp nhận, phản hồi yêu cầu giải trình của Nhân dân, doanh nghiệp; kịp thời thông tin, giải trình về chủ trương, chính sách, quyết sách mới, về các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm.

Toàn văn Chỉ thị 53-CT/TW về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ? Chỉ thị 53 của Bộ Chính trị? (Hình từ Internet)
Chỉ thị của Bộ Chính trị có phải là văn bản quy phạm pháp luật không?
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 gồm:
(1) Hiến pháp.
(2) Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
(3) Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
(4) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
(5) Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
(6) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
(7) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
(8) Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước.
(9) Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
(10) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
(11) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
(12) Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
(13) Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
(14) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
(15) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Như vậy, Chỉ thị của Bộ Chính trị KHÔNG phải là văn bản quy phạm pháp luật.
Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ theo quy định mới thế nào?
Theo Điều 7 Luật Cán bộ, công chức 2025 quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ như sau:
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; chủ động nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu của công việc; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực thi nhiệm vụ.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; phối hợp chặt chẽ với đồng nghiệp trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản công được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải chấp hành, đồng thời báo cáo bằng văn bản với cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và quy định của cấp có thẩm quyền.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];