Hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi như thế nào?

Nguyễn Văn Phước Độ 7,051 lượt xem
08:06 | 04/10/2023
Hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi như thế nào? Thắc mắc của anh L.K ở Bình Dương.
Nội dung chính
  1. Hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi như thế nào?
  2. Công việc bức xạ bao gồm các hoạt động nào?
  3. Khi nào phải báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ?
  4. Báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ phải có nội dung gì?

Hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại Điều 7 Thông tư 19/2023/TT-BKHCN quy định như sau:

Hành vi vi phạm quy định về báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ
Hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 107/2013/NĐ-CP là hành vi của tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ không gửi báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ hoặc gửi báo cáo nhưng không đúng thời hạn, nội dung báo cáo không đầy đủ, không chính xác quy định tại khoản 1 Điều 20 Thông tư số 19/2012/TT-BKHCN.

Liên hệ tại khoản 1 Điều 16 Nghị định 107/2013/NĐ-CP quy định như sau:

Vi phạm quy định về báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ
1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ của cơ sở tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
...

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ của cơ sở tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi của tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ không gửi báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ hoặc gửi báo cáo nhưng không đúng thời hạn, nội dung báo cáo không đầy đủ, không chính xác quy định tại khoản 1 Điều 20 Thông tư 19/2012/TT-BKHCN.

Hành vi không báo cáo định kỳ hằng năm về thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hành vi như thế nào? (Hình từ internet)

Công việc bức xạ bao gồm các hoạt động nào?

Căn cứ theo quy định tại Điều 18 Luật Năng lượng nguyên tử 2008 quy định công việc bức xạ bao gồm các hoạt động như sau:

- Vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu và nhà máy điện hạt nhân;

- Vận hành thiết bị chiếu xạ gồm máy gia tốc; thiết bị xạ trị; thiết bị chiếu xạ khử trùng, xử lý vật liệu và sử dụng các thiết bị bức xạ khác;

- Sản xuất, chế biến chất phóng xạ;

- Lưu giữ, sử dụng chất phóng xạ;

- Thăm dò, khai thác, chế biến quặng phóng xạ;

- Làm giàu urani; chế tạo nhiên liệu hạt nhân;

- Xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;

- Xây dựng, thay đổi quy mô và phạm vi hoạt động, chấm dứt hoạt động của cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân;

- Sử dụng vật liệu hạt nhân ngoài chu trình nhiên liệu hạt nhân;

- Nhập khẩu, xuất khẩu chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân;

- Đóng gói, vận chuyển vật liệu phóng xạ;

- Vận chuyển vật liệu phóng xạ quá cảnh lãnh thổ Việt Nam;

- Vận hành tàu biển, phương tiện khác có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân;

- Hoạt động khác tạo ra chất thải phóng xạ.

Khi nào phải báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ?

Căn cứ theo quy định tại Điều 20 Luật Năng lượng nguyên tử 2008 quy định như sau:

Báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ
1. Định kỳ hằng năm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải lập báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ gửi đến cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân.
2. Báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ bao gồm các nội dung sau đây:
a) Việc tuân thủ các điều kiện ghi trong giấy phép;
b) Những thay đổi so với hồ sơ xin cấp giấy phép (nếu có);
c) Sự cố bức xạ (nếu có) và các biện pháp khắc phục.

Theo như nội dung nêu trên thì định kỳ hằng năm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải lập báo cáo thực trạng an toàn tiến hành công việc bức xạ gửi đến cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân.

Báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ phải có nội dung gì?

Căn cứ theo quy định tại Điều 19 Luật Năng lượng nguyên tử 2008 quy định như sau:

Báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ
1. Tổ chức, cá nhân phải lập báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ khi xin cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ, trừ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 8 Điều 18 của Luật này.
2. Báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ phải phù hợp với từng công việc bức xạ và có các nội dung chính sau đây:
a) Quy trình tiến hành công việc bức xạ gồm các bước chuẩn bị, triển khai và kết thúc công việc;
b) Quy định về việc đo liều chiếu xạ cá nhân và kiểm xạ khu vực làm việc;
c) Quy định về việc ghi nhật ký tiến hành công việc bức xạ;
d) Nội quy tiến hành công việc bức xạ;
đ) Dự kiến sự cố có thể xảy ra và biện pháp khắc phục;
e) Phân công trách nhiệm cá nhân tiến hành công việc bức xạ;
g) Phân công trách nhiệm giám sát, phụ trách an toàn và điều hành chung.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì việc báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ phải phù hợp với từng công việc bức xạ và có các nội dung chính như sau:

- Quy trình tiến hành công việc bức xạ gồm các bước chuẩn bị, triển khai và kết thúc công việc;

- Quy định về việc đo liều chiếu xạ cá nhân và kiểm xạ khu vực làm việc;

- Quy định về việc ghi nhật ký tiến hành công việc bức xạ;

- Nội quy tiến hành công việc bức xạ;

- Dự kiến sự cố có thể xảy ra và biện pháp khắc phục;

- Phân công trách nhiệm cá nhân tiến hành công việc bức xạ;

- Phân công trách nhiệm giám sát, phụ trách an toàn và điều hành chung.

Thông tư 19/2023/TT-BKHCN sẽ có hiệu lực từ ngày 5/11/2023

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Vi phạm hành chính Xem thêm

Pháp luật
Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm vi phạm quy định về dịch vụ việc làm bị phạt ra sao? Chi tiết mức xử phạt tại NĐ 283 là gì?

Bài viết cung cấp quy định về mức phạt đối với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm vi phạm quy định về dịch vụ việc làm, cùng nội dung hoạt động và trách nhiệm của doanh nghiệp theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP và Nghị định 352/2025/NĐ-CP.

Pháp luật
Không xử phạt đối với trường hợp đèn tín hiệu giao thông bị lỗi

Hiện mạng xã hội xuất hiện một số thắc mắc của người điều khiển xe đang chạy gặp đèn tín hiệu bị lỗi (nháy đỏ liên tục hoặc đang tín hiệu xanh có bộ đếm thời gian chưa hết thì đột ngột chuyển tín hiệu đỏ…) hoặc trường hợp đèn bị hỏng, thì có bị xử phạt đối với hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu hay không?

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg

Pháp luật
Quyết định số 940/QĐ-TTg xác định ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành?

Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định số 940/QĐ-TTg. của Thủ tướng Chính phủ xác định phát triển VNeID trở thành Nền tảng số quốc gia, an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao...