Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết?

Đặng Phan Thị Hương Trà 12,802 lượt xem
06:00 | 19/06/2026
Tại Luật số 118/2025/QH15 được Quốc hội khóa 15 thông qua đã có nhiều nội dung sửa đổi quy định tại Luật Cư trú 2020, trong đó nhiều điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú có hiệu lực từ 01/7/2026. Xem chi tiết bên dưới.
Nội dung chính
  1. Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết
  2. Quy định mới về thông báo lưu trú qua đêm từ 01/7/2026
  3. Hướng dẫn đăng ký thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú năm 2026 trên VNeID

Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết

Ngày 10/12/2025, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 (Luật số 118/2025/QH15), có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/7/2026.

Theo đó, tại Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú 2020. Dưới đây là một số điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026:

[1] Trẻ em dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó - bao gồm cả đăng ký thường trú mới tại các địa điểm không được phép đăng ký.

Trường hợp người dưới 6 tuổi đăng ký thường trú về ở với cha, mẹ, người giám hộ thì Tờ khai thay đổi thông tin về cư trú không cần có ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp hoặc người được ủy quyền

Đồng thời, Luật mới cũng sửa đổi quy định tại Điều 7 Luật Cư trú 2020 tương ứng: Từ 01/7/2026 việc giải quyết đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho trẻ em dưới 6 tuổi về với cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ sẽ không bị xem là hành vi bị nghiêm cấm về cư trú.

Quy định hiện nay tại khoản 2 Điều 20 Luật Cư trú 2020 chỉ cho phép một số trường hợp được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình và đều phải đảm bảo được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó đồng ý. Việc giải quyết cho đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú khi biết rõ người đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú không sinh sống tại chỗ ở đó cũng là hành vi bị nghiêm cấm về cư trú theo khoản 11 Điều 7 Luật Cư trú 2020.

==> Quy định mới từ 01/7/2026 đã có sự điều chỉnh đáng kể, giảm bớt khó khăn trong việc thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi.

[2] Làm rõ quy định về việc người chưa thành niên cư trú khác nơi với cha, mẹ

Tại khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 sửa đổi khoản 2 Điều 12 Luật Cư trú 2020 về Nơi cư trú của người chưa thành niên như sau:

Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Trước khi điều chỉnh, khoản 2 Điều 12 Luật Cư trú 2020 chỉ đề cập "Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý", quy định này không xác định rõ việc người chưa thành niên cư trú nơi khác thì cần sự đồng ý của cha hoặc mẹ hoặc của cả cha và mẹ.

Theo đó, Luật mới từ 01/7/2026 đã làm rõ quy định này, trường hợp người chưa thành niên cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ thì chỉ cần đáp ứng điều kiện được cha hoặc mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

[3] Hồ sơ đăng ký thường trú của người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam từ 01/7/2026 không cần văn bản đồng ý của cơ quan xuất nhập cảnh

Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi khoản 9 Điều 21 Luật Cư trú 2020, theo đó, từ 01/7/2026 chính thức bỏ thành phần "văn bản đồng ý cho giải quyết thường trú của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh của Bộ Công an" trong hồ sơ khi đăng ký thường trú đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam.

Cụ thể, từ 01/7/2026, trường hợp người đăng ký thường trú quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 21 Luật Cư trú 2020 là người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam thì trong hồ sơ đăng ký thường trú phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng; trường hợp không có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng thì phải có giấy tờ, tài liệu khác chứng minh có quốc tịch Việt Nam.

[4] Thêm trường hợp xóa đăng ký tạm trú

Khoản 8 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã bổ sung thêm trường hợp người bị "hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam" thì bị xóa đăng ký tạm trú.

Từ 01/7/2026, các trường hợp xóa đăng ký tạm trú bao gồm:

  1. Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;
  2. Ra nước ngoài để định cư;
  3. Đã có quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú
  4. Vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác hoặc không khai báo tạm vắng, trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không phải để định cư hoặc trường hợp đang chấp hành án phạt tù, chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;
  5. Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam
  6. Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà sau 12 tháng kể từ ngày chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp quy định tại điểm h khoản này;
  7. Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác mà sau 12 tháng kể từ ngày chuyển quyền sở hữu vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý tiếp tục cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ và cho đăng ký thường trú tại chỗ ở đó hoặc trường hợp quy định tại điểm h khoản này;
  8. Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ và không được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó; người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở thuộc quyền sở hữu của mình nhưng đã chuyển quyền sở hữu chỗ ở cho người khác và không được chủ sở hữu mới đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó;
  9. Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.

[4] Không cần nộp hồ sơ, làm thủ tục đăng ký khi thay đổi thông tin về hộ tịch so với thông tin đã được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu về cư trú

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 26 Luật Cư trú 2020, trường hợp thay đổi thông tin về hộ tịch so với thông tin đã được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu về cư trú: người có thông tin được điều chỉnh nộp hồ sơ đăng ký điều chỉnh đến cơ quan đăng ký cư trú trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định của cơ quan có thẩm quyền....

Tại khoản 6 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi quy định nêu trên như sau:

... khi có sự thay đổi thông tin về hộ tịch của cơ quan có thẩm quyền, thông tin thay đổi về hộ tịch của công dân được cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho Cơ sở dữ liệu về cư trú

Như vậy, có thể hiểu, từ ngày 01/7/2026, khi có sự thay đổi thông tin về hộ tịch so với thông tin đã được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu, người dân không cần phải làm thủ tục đăng ký điều chỉnh thông tin cư trú, thay vào đó hệ thống sẽ tự đồng cập nhật thay đổi. Dữ liệu được cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho Cơ sở dữ liệu về cư trú.

[5] Sửa quy định về khai báo tạm vắng khi đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo đang tại ngoại, người đang chấp hành biện pháp giáo dục...

Tại khoản 10 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 31 Luật Cư trú 2020 về khai báo tạm vắng.

Theo đó, người quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú 2020 (đã được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 177 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024) trước khi đi khỏi nơi cư trú có thể khai báo tạm vắng online với cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia, không cần phải đến khai báo tạm vắng trực tiếp.

Người quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú 2020 được nêu tại quy định này bao gồm:

  • Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt quản chế, cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, người chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành;
  • Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng.

[6] Từ 01/7/2026 Cơ quan đăng cư trú cũng sẽ tiếp nhận phản hồi của người dân về việc thông tin sai lệch, phối hợp với cơ quan có liên quan xác minh, kịp thời cập nhật, điều chỉnh thông tin công dân theo khoản 11 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025

Trên đây là một số điểm mới nổi bật về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026.

Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết?

Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết?

Quy định mới về thông báo lưu trú qua đêm từ 01/7/2026

Tại khoản 9 Điều 4 Luật sửa đổi 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự 2025 đã sửa đổi, bổ sung Điều 30 Luật Cư trú 2020 về thông báo lưu trú.

Theo đó, việc thông báo lưu trú qua đêm từ 01/7/2026 được thực hiện như sau:

- Khi có người đến lưu trú, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở khác có chức năng lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú; trường hợp người đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình mà cá nhân, thành viên hộ gia đình không có mặt tại chỗ ở đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc, lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú.

- Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp, bằng điện thoại, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác do Bộ trưởng Bộ Công an quy định.

- Nội dung thông báo về lưu trú bao gồm họ và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, số hộ chiếu của người lưu trú; lý do lưu trú; thời gian lưu trú; địa chỉ lưu trú.

- Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 08 giờ ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.

- Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú.

=>> So sánh quy định về thông báo lưu trú (cũ và mới)

Hướng dẫn đăng ký thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú năm 2026 trên VNeID

Xem chi tiết Hướng dẫn đăng ký thường trú, tạm trú, thông báo lưu trú năm 2026 trên VNeID tại đây.

Trên đây là nội dung bài viết 'Điểm mới về đăng ký thường trú, tạm trú từ 01/7/2026? Nhiều quy định mới về đăng ký cư trú người dân cần biết' và những quy định, nội dung liên quan.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Cho ở nhờ có phải là một giao dịch dân sự để thực hiện chứng thực, công chứng không? Những yêu cầu nào không được chứng thực và người thực hiện chứng thực được quyền từ chối?

Cho ở nhờ có phải là một giao dịch dân sự để thực hiện chứng thực, công chứng không? Những yêu cầu nào không được chứng thực và người thực hiện chứng thực được quyền từ chối?

Bài viết mới nhất