Dữ liệu từ Google Map có thể sử dụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự hay không?

Đinh Thị Ngọc Huyền 3,649 lượt xem
17:01 | 13/11/2024
Dữ liệu từ Google Map có thể sử dụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự không? Tôi thấy hiện nay lượng người sử dụng ứng dụng Google Map rất là lớn, ngoài để tìm kiếm đường đi thì trên này còn có tính năng lưu lại lịch sử chuyến đi hay địa điểm đã đến của người sử dụng. Vậy cho tôi hỏi những dữ liệu trên google map như vậy thì có thể được dùng để làm chứng cứ buộc tội bị can, bị cáo trong vụ án hình sự không ạ?
Nội dung chính
  1. Google Map là gì?
  2. Chứng cứ trong vụ án hình sự là gì?
  3. Việc thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?
  4. Dữ liệu từ Google Map có thể sử dụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự hay không?

Google Map là gì?

Có thể hiểu đơn giản Google Map chính là một loại bản đồ điện tử. Đây là một ứng dụng được phát hành bởi Google với mục đích đem đến cho người dùng một loại bản đồ thông minh, tính năng vượt trội so với bản đồ giấy. Ứng dụng này sẽ giúp cho người dùng dễ dàng tìm kiếm những đường đi thuận tiện nhất để đến các địa điểm mình cần, đặc biệt sẽ hướng dẫn cụ thể từng bước để đi đến đó, biết được quãng đường đến vị trí đó là bao xa, định vị được vị trí xung quanh mình, ngoài những tính năng đặc trưng thì Google Map còn giúp người dùng có thể biết được tình hình, mật độ giao thông hiện tại, gửi định vị, xem lại các địa điểm mình đã đi qua,...

Chứng cứ

Chứng cứ trong vụ án hình sự

Chứng cứ trong vụ án hình sự là gì?

Căn cứ theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về chứng cứ như sau:

“Điều 86. Chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.”

Việc thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?

Tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về việc thu thập chứng cứ cụ thể như sau:

"Điều 88. Thu thập chứng cứ
1. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
3. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này."

Như vậy, việc thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự sẽ được thực hiện theo như quy định trên đây.

Dữ liệu từ Google Map có thể sử dụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự hay không?

Căn cứ theo Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về nguồn của chứng cứ cụ thể như sau:

"Điều 87. Nguồn chứng cứ
1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự."

Như vậy, theo quy định nêu trên, dữ liệu từ ứng dụng Google Map cũng là một loại dữ liệu điện tử nên đây có thể được xem là một trong những nguồn của chứng cứ. Do đó, nếu dữ liệu từ Google Map đáp ứng đầy đủ các điều kiện của chứng cứ quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì có thể được xem là chứng cứ trong vụ án hình sự.

Cụ thể, những dữ liệu từ Google Map này phải là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Trên đây là một số thông tin liên quan đến việc có thể dùng dữ liệu từ Google Map làm chứng cứ trong vụ án hình sự hay không mà chúng tôi cung cấp gửi đến bạn. Trân trọng!

Logo Thư viện Pháp luật
Đinh Thị Ngọc Huyền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Công văn 20917/SNV-CCVC triển khai thực hiện Quyết định 78/2026/QĐ-UBND về chi thu nhập tăng thêm CBCCVC tại TPHCM ra sao?

Nội dung triển khai thực hiện Quyết định 78/2026/QĐ-UBND ban hành Quy định về xếp loại và chi thu nhập tăng thêm đối với cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc và người lao động trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được Sở Nội vụ TPHCM nêu rõ tại Công văn 20917/SNV-CCVC ngày 9/10/2026 cụ thể như sau: