Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào?

Phạm Thị Thục Quyên 3,260 lượt xem
12:13 | 12/03/2026
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào? Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng đúng không? Cơ quan có thẩm quyền triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc?
Nội dung chính
  1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào?
  2. Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng đúng không?
  3. Cơ quan có thẩm quyền triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc?

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào?

Về các mục tiêu, chỉ tiêu phát triền chủ yếu 5 năm 2026 - 2030 được quy định tại tiểu mục 3 Mục II Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV TẢI VỀ. Trong đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 như sau:

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1 - 1,5%/năm. Ti lệ đô thị hoá đạt trên 50%.

Tổng tích luỹ tài sản khoảng 35 - 36% GDP; tỉ trọng tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62% GDP. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%. Ti lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào?

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Xác định mục tiêu phát triển kinh tế 5 năm 2026 2030 thế nào? (Hình từ Internet)

Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng đúng không?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 quy định như sau:

Điều 9.
Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:
1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).
3. Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.
5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
6. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.

Theo đó, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc.

Cơ quan có thẩm quyền triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 15 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 quy định như sau:

Điều 15.
1. Đại hội đại biểu toàn quốc do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ năm năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm.
2. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua; quyết định đường lối, chính sách của Đảng nhiệm kỳ tới; bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng khi cần; bầu Ban Chấp hành Trung ương. Số lượng Uỷ viên Trung ương chính thức và Uỷ viên Trung ương dự khuyết do Đại hội quyết định.
Ban Chấp hành Trung ương xem xét việc chuyển Uỷ viên Trung ương dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Uỷ viên Trung ương chính thức khi khuyết.
3. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp uỷ trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường. Đại biểu dự Đại hội bất thường là các Uỷ viên Trung ương đương nhiệm, đại biểu đã dự Đại hội đại biểu toàn quốc đầu nhiệm kỳ, đủ tư cách.

Theo đó, đại hội đại biểu toàn quốc do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ năm năm một lần, có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm.

Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Thị Thục Quyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất