Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tiếp tục có hành vi đánh bạc thì có đi tù không?

Lê Nhựt Hào 342 lượt xem
19:49 | 28/05/2026
Pháp luật quy định trường hợp người nào bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép nhưng lại tiếp tục vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nội dung chính
  1. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tiếp tục có hành vi đánh bạc thì có đi tù không?
  2. Hành vi đánh bạc trái phép bị xử phạt hành chính thế nào?
  3. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được quy định ra sao?

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tiếp tục có hành vi đánh bạc thì có đi tù không?

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 nếu người nào có hành vi đánh bạc mà đã bị xử phạt hành chính nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

Cụ thể, tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 120 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định như sau:

Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Theo quy định nêu trên thì nếu một người có hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người này có hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng và đã bị xử phạt hành chính thì đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bởi theo Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định như sau:

Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính
1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo đó, nếu 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt về hành vi đánh bạc trái phép mà người này không có hành vi vi phạm thì sẽ được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Còn đối với trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng lần tiếp theo lại đánh bạc với số tiền cược từ 5 triệu đồng trở lên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không cần xem xét đến yêu tố đã bị xử phạt hay chưa.

Do đó, nếu một người có hành vi đánh bạc trái phép dưới 5 triệu đồng đã bị xử phạt hành chính và trong vòng 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt mà không có tái phạm, thì đối với lần đánh bạc dưới 5 triệu đồng tiếp theo sẽ không được xem là bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà còn vi phạm.

>>XEM THÊM: Tổ chức và cầm đầu đường dây đánh bạc qua mạng bị phạt tù bao nhiêu năm?

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tiếp tục có hành vi đánh bạc thì có đi tù không?

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tiếp tục có hành vi đánh bạc thì có đi tù không? (Hình từ Internet)

Hành vi đánh bạc trái phép bị xử phạt hành chính thế nào?

Tại Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về mức xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc trái phép như sau:

(1) Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

(2) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

(3) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay trái phép tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

- Bán số lô, số đề, bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề, giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng;

- Giúp sức, che giấu việc đánh bạc trái phép;

- Bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép;

- Chủ sở hữu, người quản lý máy trò chơi điện tử, chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh trò chơi điện tử hoặc các cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác thiếu trách nhiệm trong thực hiện quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh để xảy ra hoạt động đánh bạc ở cơ sở do mình quản lý.

(4) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

- Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

- Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.

(5) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:

- Làm chủ lô, đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

- Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

>>XEM THÊM: Đánh bạc online được hiểu như thế nào?

Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được quy định ra sao?

Theo Điều 8 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính như sau:

- Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc.

- Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất