Công ty kinh doanh chuyển khẩu bán hàng hóa cho doanh nghiệp trong cùng tập đoàn bị lỗ thì có xem là chuyển giá không?

— 105 lượt xem
23:23 | 28/08/2026
Công ty có mô hình hoạt động kinh doanh chuyển khẩu mua hàng ở Đài Loan và bán cho công ty trong cùng tập đoàn tại Singapo, tập đoàn này là tập đoàn đa quốc gia. Khi giá bán ra thấp hơn so với giá bán thị trường trong nước và công ty phát sinh lỗ thì có xem đây là hành vi chuyển giá, có phải giao dịch liên kết hay không?
Nội dung chính
  1. Giao dịch liên kết là gì?
  2. Công ty kinh doanh chuyển khẩu bán hàng hóa cho doanh nghiệp trong cùng tập đoàn bị lỗ thì có xem là chuyển giá không?
  3. Những trường hợp khác được xác định là giao dịch liên kết?

Giao dịch liên kết là gì?

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 255/2026/NĐ-CP giải thích từ ngữ, trong đó xác định giao dịch liên kết là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.

Công ty kinh doanh chuyển khẩu bán hàng hóa cho doanh nghiệp trong cùng tập đoàn bị lỗ thì có xem là chuyển giá không?

Công ty kinh doanh chuyển khẩu bán hàng hóa cho doanh nghiệp trong cùng tập đoàn bị lỗ thì có xem là chuyển giá không?

Công ty kinh doanh chuyển khẩu bán hàng hóa cho doanh nghiệp trong cùng tập đoàn bị lỗ thì có xem là chuyển giá không?

Hiện tại không có quy định định nghĩa chính xác thế nào là chuyển giá, tuy nhiên có thể xác định là hành vi các công ty trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệ liên kết tự ấn định mức giá cho hàng hóa, dịch vụ, tài sản hoặc các khoản vay giao dịch nội bộ không theo giá thị trường nhằm giảm thiểu tổng số thuế phải nộp. Để xác định có phải là hành vi chuyển giá hay không thì không đủ cơ sở để kết luận mà còn phụ thuộc vào nhận định của cơ quan thuế quản lý là người có chuyên môn, nghiệp vụ. Bạn đọc có thể xem qua một số quy định như sau:

Căn cứ quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP liệt kê các bên có quan hệ liên kết (theo diện sở hữu vốn - quan hệ công ty mẹ con) bao gồm các trường hợp:

- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;

- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp;

- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia;

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 255/2026/NĐ-CP hướng dẫn về nguyên tắc phân tích, so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập cụ thể phân tích, so sánh phải đảm bảo tính tương đồng giữa doanh nghiệp thực hiện giao dịch độc lập với doanh nghiệp có giao dịch liên kết hoặc giao dịch độc lập với giao dịch liên kết, không có yếu tố khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận giữa các bên.

Trường hợp có yếu tố khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến mức giá; tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận, phải phân tích, xác định và thực hiện điều chỉnh loại trừ yếu tố khác biệt trọng yếu đó thông qua so sánh các yếu tố như lựa chọn đối tượng so sánh độc lập nội bộ; dữ liệu tài chính, kinh doanh của các đối tượng so sánh phải đảm bảo độ tin cậy; Số lượng tối thiểu đối tượng so sánh độc lập; đặc tính sản phẩm của hàng hóa, dịch vụ, tài sản;... (những yếu tố được quy định tại Điều 7, Điều 10 Nghị định 255/2026/NĐ-CP) và yêu cầu phù hợp với từng phương pháp xác định giá giao dịch liên kết (Phương pháp so sánh giá giao dịch liên kết với giá giao dịch độc lập; Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận của người nộp thuế với tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập; Phương pháp phân bổ lợi nhuận giữa các bên liên kết).

Có thể thấy theo những quy định nêu trên, trước tiên để xác định có hành vi chuyển giá hay không sẽ cần đối chiếu mối quan hệ của hai công ty trong cùng tập đoàn này có thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP khi cùng chung tập đoàn hay không? Cụ thể bên thứ 3 sở hữu 25% vốn góp của cả hai doanh nghiệp đang có giao dịch với nhau. Trường hợp xác định là giao dịch liên kết thì tiếp tục thực hiện việc phân tích, so sánh với giao dịch độc lập để xem giá giao dịch có phù hợp hay không, lúc này sẽ đối chiếu với Chương II Nghị định 255/2026/NĐ-CP để xác định.

Những trường hợp khác được xác định là giao dịch liên kết?

Ngoài những trường hợp được liệt kê tại mục trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP còn những trường hợp sau:

- Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện tổng dư nợ các khoản vốn vay của doanh nghiệp đi vay với doanh nghiệp cho vay hoặc bảo lãnh ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng dư nợ tất cả các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.

- Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai;

- Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba;

- Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;

- Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài;

- Các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp;

- Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp (bao gồm cả chi nhánh hạch toán độc lập thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp) chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia;

- Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay, mượn, cho mượn ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này;

- Tổ chức tín dụng với Công ty con hoặc với Công ty kiểm soát hoặc với Công ty liên kết của tổ chức tín dụng;

Logo Thư viện Pháp luật
— Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Doanh nghiệp Xem thêm

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?