Có phải điều chỉnh lương cho người lao động khi hàng hóa dịch vụ có biến động về giá không?
Theo khoản 1 Điều 95 Bộ Luật lao động 2019, tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người lao động được xác định căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc, điều này cho thấy pháp luật chỉ ghi nhận các yếu tố liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động và hiệu quả làm việc, hoàn toàn không đề cập đến yếu tố biến động giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Vì vậy, việc giá cả thị trường tăng hoặc giảm không phải là căn cứ pháp lý bắt buộc để điều chỉnh lương cho người lao động.
Bên cạnh đó, theo Điều 94 Bộ Luật lao động 2019, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương đầy đủ, đúng hạn và không được can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu của người lao động, quy định này chỉ nhằm bảo vệ quyền nhận lương và quyền sử dụng tiền lương của người lao động, chứ không đặt ra nghĩa vụ phải điều chỉnh mức lương theo biến động của thị trường.
Do đó, dù giá hàng hóa, dịch vụ có biến động thì miễn là doanh nghiệp vẫn trả lương đúng thỏa thuận và đúng hạn, thì vẫn được xem là tuân thủ pháp luật và không bắt buộc phải điều chỉnh lương cho người lao động.
Từ hai căn cứ trên có thể thấy pháp luật không bắt buộc người sử dụng lao động phải điều chỉnh lương cho người lao động khi hàng hóa dịch vụ có biến động về giá, việc tăng lương trong trường hợp này chủ yếu phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên hoặc chính sách riêng của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo mức lương trả cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định, và nếu mức lương tối thiểu được điều chỉnh thì doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện điều chỉnh tương ứng để đảm bảo tuân thủ pháp luật.

Có phải điều chỉnh lương cho người lao động khi hàng hóa dịch vụ có biến động về giá hay không? (Hình từ Internet)
Thời điểm trả lương cho người lao động nhận lương theo tháng được quy định như thế nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 97 Bộ Luật lao động 2019 thì người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
Ngoài ra, Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
* Lưu ý: Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương (khoản 4 Điều 97 Bộ Luật lao động 2019).
Quy định về tạm ứng tiền lương theo Bộ Luật lao động 2019 như nào?
Tại Điều 101 Bộ Luật lao động 2019 có quy định về việc tạm ứng tiền lương như sau:
Tạm ứng tiền lương
1. Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi.
2. Người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng.
Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương.
3. Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Quy định về tạm ứng tiền lương theo Bộ Luật lao động 2019 như sau:
- Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi.
- Người sử dụng lao động phải cho người lao động tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng.
Người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 thì không được tạm ứng tiền lương.
- Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];