Chấm dứt hoạt động văn phòng giám định tư pháp trong trường hợp nào theo Nghị định 177/2026/NĐ-CP? Thủ tục chấm dứt ra sao?
Văn phòng giám định tư pháp chấm dứt hoạt động trong các trường hợp tại Điều 29 Nghị định 177/2026/NĐ-CP, cụ thể bao gồm:
- Tự chấm dứt hoạt động;
- Bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động theo quy định tại Điều 28 Nghị định 177/2026/NĐ-CP;
- Bị hợp nhất, bị sáp nhập.
Trường hợp tự chấm dứt hoạt động thì chậm nhất là 30 ngày trước thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động, văn phòng giám định tư pháp phải có báo cáo bằng văn bản gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động.
Văn phòng giám định tư pháp phải gửi kèm theo báo cáo giấy tờ chứng minh đã hoàn thành việc thực hiện giám định đối với các trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp đã tiếp nhận, nộp đủ số thuế còn nợ, thanh toán xong các khoản nợ theo quy định của pháp luật, làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với người lao động, đăng báo trung ương hoặc báo địa phương trong hai số liên tiếp về thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động.
Trong trường hợp chấm dứt hoạt động do bị hợp nhất, bị sáp nhập thì quyền, nghĩa vụ của văn phòng giám định tư pháp do văn phòng giám định tư pháp hợp nhất hoặc văn phòng giám định tư pháp nhận sáp nhập tiếp tục thực hiện.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp tỉnh, thành phố xem xét, quyết định chấm dứt hoạt động của văn phòng giám định tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định chấm dứt hoạt động của văn phòng giám định tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hoạt động đến văn phòng giám định tư pháp và các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 177/2026/NĐ-CP.
Trường hợp văn phòng giám định tư pháp chấm dứt hoạt động theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Nghị định 177/2026/NĐ-CP thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thu hồi giấy đăng ký hoạt động, Sở Tư pháp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 177/2026/NĐ-CP.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động, văn phòng giám định tư pháp có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, làm thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với người lao động và đăng báo trung ương hoặc báo địa phương trong hai số liên tiếp về việc chấm dứt hoạt động; chuyển hồ sơ lưu trữ về việc thực hiện giám định tư pháp cho Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động.
Đối với yêu cầu giám định đã tiếp nhận mà chưa thực hiện thì văn phòng giám định tư pháp phải trả lại hồ sơ, đối tượng giám định và khoản chi phí giám định đã thu của người trưng cầu, yêu cầu giám định.

Chấm dứt hoạt động văn phòng giám định tư pháp trong trường hợp nào theo Nghị định 177/2026/NĐ-CP? Thủ tục chấm dứt ra sao? (Hình từ Internet)
Tạm ngừng hoạt động của văn phòng giám định tư pháp trong trường hợp nào?
Văn phòng giám định tư pháp tạm ngừng hoạt động trong các trường hợp tại Điều 27 Nghị định 177/2026/NĐ-CP, cụ thể bao gồm:
(i) Không còn đủ số lượng thành viên hợp danh theo quy định đối với trường hợp văn phòng giám định tư pháp hoạt động dưới hình thức công ty hợp danh;
(ii) Không thể hoạt động vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Thời gian tạm ngừng hoạt động của văn phòng giám định tư pháp được quy định như sau:
- Trường hợp quy định tại (i), tối đa là 12 tháng;
- Trường hợp quy định tại (ii) là thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày văn phòng giám định tư pháp tạm ngừng hoạt động hoặc chấm dứt việc tạm ngừng hoạt động theo quy định tại (ii), văn phòng giám định tư pháp phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp nơi văn phòng giám định tư pháp đăng ký hoạt động.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày văn phòng giám định tư pháp thuộc trường hợp quy định tại (i) và (ii), Sở Tư pháp nơi văn phòng giám định tư pháp đăng ký hoạt động ra quyết định tạm ngừng hoạt động của văn phòng giám định tư pháp. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày lý do tạm ngừng không còn, Sở Tư pháp ra quyết định chấm dứt việc tạm ngừng hoạt động của văn phòng giám định tư pháp.
Xử lý vi phạm trong hoạt động giám định tư pháp như thế nào?
Vi phạm trong hoạt động giám định tư pháp được xử lý theo quy định tại Điều 42 Luật Giám định tư pháp 2025, cụ thể bao gồm:
(1) Mọi tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của Luật Giám định tư pháp 2025 và quy định khác của pháp luật có liên quan trong tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
(2) Công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, vi phạm quy định về trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận giám định hoặc tiếp nhận, thực hiện giám định thì tùy mức độ vi phạm mà bị xử lý trách nhiệm công vụ, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
(3) Người giám định tư pháp là người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tổ chức thực hiện giám định ở khu vực ngoài nhà nước vi phạm quy định về tiếp nhận, thực hiện giám định, tham gia tố tụng với tư cách là tổ chức, cá nhân giám định thì tùy theo mức độ mà bị xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];