Sử dụng hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/01 hay 01/07 năm 2026?
Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định về hiệu lực thi hành như sau:
Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Chậm nhất là ngày 01 tháng 7 năm 2026, Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được chính thức đưa vào vận hành. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định này từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
...
Theo quy định trên, Nghị định 337/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Từ ngày 01/7/2026, nền tảng hợp đồng lao động điện tử sẽ được đưa vào vận hành chính thức, việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử được thực hiện theo quy định của Nghị định 337/2025/NĐ-CP.
Đồng thời, tại Điều 29 Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định điều khoản chuyển tiếp như sau:
- Hợp đồng lao động điện tử đã được giao kết trước ngày 01/01/2026 và đến thời điểm này vẫn còn hiệu lực thì được tiếp tục thực hiện cho đến khi hết hạn;
- Trường hợp hợp đồng lao động điện tử đã xác lập trước 01/01/2026 nhưng chưa thực hiện xong thì tiếp tục thực hiện theo pháp luật tại thời điểm giao kết, trừ khi các bên có thỏa thuận áp dụng theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP;
- Không có quy định buộc phải ký lại hoặc chuyển đổi các hợp đồng lao động đã giao kết trước đó sang hình thức điện tử.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, nền tảng hợp đồng lao động điện tử sẽ được đưa vào vận hành chính thức, đồng thời, việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử được thực hiện theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP từ ngày 01/07/2026.
Xem thêm:
>> Toàn văn Nghị định 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử?
>> Cá nhân ký hợp đồng lao động trên 3 tháng ở cả 2 nơi thì quyết toán thuế TNCN như thế nào?

Sử dụng hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/01 hay 01/07 năm 2026? (Hình từ Internet)
Chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản sang hợp đồng lao động điện tử cần đáp ứng điều kiện nào?
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 337/2025/NĐ-CP như sau:
Chuyển đổi hình thức giữa hợp đồng lao động bằng văn bản giấy và hợp đồng lao động điện tử
1. Hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử và đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Chủ thể giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản phải được xác thực theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
b) Hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi phải được ký số bởi người có thẩm quyền của người sử dụng lao động để xác nhận tính chính xác, đầy đủ so với bản gốc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung chuyển đổi. Hợp đồng lao động điện tử sau khi chuyển đổi phải được gắn ID.
2. Hợp đồng lao động bằng văn bản giấy được chuyển đổi từ hợp đồng lao động điện tử thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử.
3. Hợp đồng lao động được chuyển đổi có giá trị như bản gốc khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Theo đó, việc chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy sang hợp đồng lao động điện tử thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử 2023 và đáp ứng các yêu cầu sau:
- Chủ thể giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản phải được xác thực theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
- Hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi phải được ký số bởi người có thẩm quyền của người sử dụng lao động để xác nhận tính chính xác, đầy đủ so với bản gốc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung chuyển đổi. Hợp đồng lao động điện tử sau khi chuyển đổi phải được gắn ID.
Cá nhân không ký hợp đồng lao động thì tính thuế TNCN như thế nào?
Theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định như sau:
Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế
1. Khấu trừ thuế
...
i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
...
Theo quy định trên, trường hợp cá nhân ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động sẽ phải nộp thuế TNCN ở mức 10% trên mức tổng thu nhập nếu có thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên trừ trường hợp làm cam kết.
Lưu ý: Khoản thuế TNCN này sẽ do tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú tự khấu trừ.
Như vậy, cách tính thuế thu nhập cá nhân của cá nhân không ký hợp đồng lao động như sau:
Thuế TNCN phải đóng = 10% x Tổng thu nhập trước khi trả |
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];