Hợp đồng lao động điện tử có bắt buộc gắn ID không?
>>>Tải về Trọn bộ văn bản pháp luật hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025. >>> Tải về Trọn bộ văn bản pháp luật hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025. >>> Tải về Lịch nộp thuế 2026 >>> Tải về File excel tính thuế TNCN mới nhất 2026 |
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 337/2025/NĐ-CP có định nghĩa mã định danh hợp đồng lao động điện tử (sau đây gọi là ID) là dãy số duy nhất được Nền tảng hợp đồng lao động điện tử cấp cho mỗi hợp đồng lao động điện tử và hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 6 Nghị định 337/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Điều kiện, phương thức thực hiện giao kết hợp đồng lao động điện tử
...
4. Hợp đồng lao động điện tử được tạo lập, xác thực định danh chủ thể giao kết hợp đồng lao động điện tử, ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp eContract vào hợp đồng lao động điện tử trên eContract bảo đảm các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm bên sau cùng ký, Nhà cung cấp eContract phải gửi hợp đồng lao động điện tử về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để gắn ID theo quy định của Bộ Nội vụ.
...
Theo quy định trên, trong vòng 24 giờ sau khi người sử dụng lao động và người lao động cùng nhau ký chữ ký số trên hợp đồng lao động điện tử, nhà cung cấp eContract phải gửi hợp đồng lao động điện tử về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để gắn ID theo quy định của Bộ Nội vụ.
Vì vậy, hợp đồng lao động điện tử phải bắt buộc gắn ID.
Xem thêm:
>>> Từ 1/7/2026 có bắt buộc chuyển hợp đồng lao động bản giấy sang hợp đồng lao động điện tử không?
>>> Từ 01/07/2026, đăng nhập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử bắt buộc sử dụng VNeID đúng không?
>>> Điều kiện giao kết hợp đồng lao động điện tử giữa người lao động và người sử dụng lao động từ 2026?

Hợp đồng lao động điện tử có bắt buộc gắn ID không? (Hình từ Internet)
Trách nhiệm của Nhà cung cấp eContract được quy định như thế nào?
Trách nhiệm của Nhà cung cấp eContract được quy định tại Điều 21 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, cụ thể như sau:
(1) Gửi bản hợp đồng lao động điện tử có gắn ID cho người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử phù hợp theo thỏa thuận cung cấp dịch vụ.
(2) Thiết lập kênh kết nối kỹ thuật ổn định, an toàn với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử, bảo đảm khả năng truyền nhận dữ liệu chính xác, kịp thời và bảo mật.
(3) Công khai thông báo phương thức hoạt động, chất lượng dịch vụ trên trang thông tin điện tử chính thức của Nhà cung cấp eContract, bao gồm: quy trình đăng ký sử dụng dịch vụ, biểu mẫu, chi phí liên quan và các điều kiện cung cấp dịch vụ.
(4) Bảo đảm kết nối liên tục, bảo mật, toàn vẹn dữ liệu hợp đồng lao động điện tử; các điều kiện cần thiết để thực hiện giao kết hợp đồng lao động điện tử và thực hiện các giao dịch theo yêu cầu của các bên có liên quan trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử.
(5) Cung cấp công cụ để người sử dụng lao động số hóa, chuyển đổi hình thức giữa hợp đồng lao động bằng văn bản giấy và hợp đồng lao động điện tử; công cụ báo cáo tình hình sử dụng lao động theo quy định pháp luật.
(6) Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về triển khai hoạt động cung cấp eContract; về tình hình giao dịch hợp đồng lao động điện tử trên eContract theo quy định của Bộ Nội vụ.
(7) Thực hiện lưu trữ dữ liệu hợp đồng lao động điện tử theo quy định pháp luật về lưu trữ.
(8) Xây dựng và duy trì phương án kỹ thuật, tổ chức, nhân sự và quy trình nghiệp vụ để thực hiện việc chứng thực hợp đồng lao động điện tử.
(9) Trường hợp Nhà cung cấp eContract chấm dứt hoạt động thì toàn bộ dữ liệu hợp đồng lao động điện tử phải được chuyển giao cho Nền tảng hợp đồng lao động điện tử theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
Cá nhân không ký hợp đồng lao động thì tính thuế TNCN như thế nào?
Theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế như sau:
Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế
1. Khấu trừ thuế
...
i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác
Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
...
Theo quy định trên, trường hợp cá nhân ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động sẽ phải nộp thuế TNCN ở mức 10% trên mức tổng thu nhập nếu có thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên trừ trường hợp làm cam kết.
Lưu ý: Khoản thuế TNCN này sẽ do tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú tự khấu trừ.
Như vậy, cách tính thuế TNCN của cá nhân không ký hợp đồng lao động như sau:
Thuế TNCN phải đóng = 10% x Tổng thu nhập trước khi trả |
>>> Không muốn bị khấu trừ 10% thuế TNCN thì người lao động phải làm gì?
Lưu ý, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026, trừ các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Đồng nghĩa với việc, Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sẽ hết hiệu lực vào ngày 30/06/2026, trừ các quy định liên quan đến tiền lương, tiền công sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2025.
Cho đến khi có văn bản mới hướng dẫn thi hành, cách tính thuế TNCN đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động sẽ được thực hiện như trên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];