- Tinh giản biên chế cán bộ, công chức cấp xã năng lực yếu kém, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo Chỉ thị 18 ra sao?
- Tiền lương để tính trợ cấp tinh giản biên chế cho cán bộ công chức viên chức bao gồm những khoản nào?
- Gắn tinh giản biên chế với sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng nào tại Nghị định 154?
Tinh giản biên chế cán bộ, công chức cấp xã năng lực yếu kém, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo Chỉ thị 18 ra sao?
Ngày 08/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành ban hành Chỉ thị 18/CT-TTg năm 2026 về nâng cao chất lượng cán bộ công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Theo đó, triển khai vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, công tác sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức cấp xã của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc của Đảng, quy định của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản được kiện toàn, từng bước thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới; năng lực lãnh đạo, điều hành được nâng lên; phương thức làm việc bước đầu đáp ứng mục tiêu, yêu cầu kiến tạo, phát triển và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
Tuy nhiên, hiện nay đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu rất cao, chức năng của cấp cơ sở đang và tiếp tục mở rộng, đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao, phát triển bền vững, đồng thời đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc theo hướng chủ động, kiến tạo, phát triển. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp cơ sở được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị, điều hành, thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Thực hiện Thông báo 21-TB/VPTW ngày 07 tháng 3 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành, địa phương tập trung, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trong đó, tổ chức triển khai việc đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã trên cơ sở tiến độ, chất lượng xử lý công việc, năng lực phối hợp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp; thực hiện tinh giản biên chế đối với những người năng lực yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (thực hiện thường xuyên).

Tinh giản biên chế cán bộ, công chức cấp xã năng lực yếu kém, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo Chỉ thị 18 ra sao? (Hình từ Internet)
Tiền lương để tính trợ cấp tinh giản biên chế cho cán bộ công chức viên chức bao gồm những khoản nào?
Tại Điều 5 Nghị định 154/2025/NĐ-CP quy định, tiền lương hiện hưởng để tính trợ cấp là tiền lương tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế, bao gồm:
- Mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh, chức danh nghề nghiệp hoặc mức lương theo thỏa thuận của hợp đồng lao động hoặc mức lương của người quản lý công ty;
- Các khoản phụ cấp lương (gồm: phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề) và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) theo quy định của pháp luật về tiền lương.
Đối với các trường hợp đang nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau thì tiền lương tháng hiện hưởng là tiền lương tháng liền kề của tháng trước khi nghỉ việc không hưởng lương, nghỉ hưởng chế độ ốm đau nhưng mức lương cơ sở được tính theo mức lương cơ sở của tháng liền kề trước khi tinh giản biên chế.
Gắn tinh giản biên chế với sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng nào tại Nghị định 154?
Căn cứ tại Điều 3 Nghị định 154/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc gắn tinh giản biên chế với sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, phù hợp với cơ chế tự chủ của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Cụ thể, tại Điều 3 Nghị định 154/2025/NĐ-CP đã nêu rõ 7 nguyên tắc cần đảm bảo khi tinh giản biên chế:
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong quá trình thực hiện tinh giản biên chế.
(2) Gắn tinh giản biên chế với sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, phù hợp với cơ chế tự chủ của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
(3) Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và theo quy định của pháp luật.
(4) Bảo đảm chi trả chế độ, chính sách tinh giản biên chế kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước.
(5) Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện tinh giản biên chế trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý theo thẩm quyền.
(6) Đối tượng tinh giản biên chế nếu được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trong thời gian 60 tháng kể từ ngày thực hiện tinh giản biên chế thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp.
(7) Đối tượng tinh giản biên chế đủ điều kiện hưởng chính sách quy định tại các văn bản khác nhau của Chính phủ thì chỉ được một chính sách cao nhất.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];