Đồng Nai còn lại 599 thôn, ấp, khu phố giảm 66,18% sau sắp xếp thôn, khu phố?
Ngày 19/6/2026, UBND Thành phố Đồng Nai ban hành Phương án 3439/PA-UBND Tổng thể sắp xếp thôn, ấp, khu phố trên địa bàn thành phố.
Tải về => Phương án 3439/PA-UBND.
Theo Phương án 3439/PA-UBND, nội dung Phương án sắp xếp thôn ấp khu phố năm 2026 tại Đồng Nai như sau:
Thực hiện quy định của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch UBND thành phố; UBND cấp xã tiến hành rà soát, báo cáo thực trạng và xây dựng phương án sắp xếp. Theo đó, trên cơ sở rà soát tại 95/95 đơn vị hành chính cấp xã, các địa phương xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại thôn, ấp, khu phố phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn (định hướng giảm còn khoảng 1/3 số thôn, ấp, khu phố so với hiện nay), cụ thể:
Kết quả: Theo phương án tổng hợp của 95/95 xã, phường, sau khi sắp xếp dự kiến giảm 1.172/1.771 thôn, ấp, khu phố (tỷ lệ giảm 66,18%) còn 599 thôn, ấp, khu phố (351 thôn, ấp và 248 khu phố).
Việc triển khai Phương án sắp xếp thôn, ấp, khu phố trên địa bàn thành phố Đồng Nai dự kiến mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, thực hiện chủ trương của Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Tinh gọn đầu mối tổ chức ở cơ sở, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tại cộng đồng dân cư. Theo phương án dự kiến, toàn thành phố thực hiện sắp xếp thôn, ấp, khu phố, giảm 1.172 đơn vị so với hiện trạng, tương đương giảm 66,18%, còn lại 599 thôn, ấp, khu phố. Việc giảm số lượng đơn vị sẽ khắc phục tình trạng phân tán, manh mún trong tổ chức tự quản ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo của cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể.

Đồng Nai còn lại 599 thôn, ấp, khu phố giảm 66,18% sau sắp xếp thôn, khu phố? (Hình từ Internet)
Chính sách tinh giản biên chế với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm những khoản tiền gì?
Tại Điều 10 Nghị định 154/2025/NĐ-CP giải quyết chế độ tinh giản biên chế của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố như sau:
Đối tượng | Chính sách, chế độ được hưởng |
Chưa đến tuổi nghỉ hưu và dưới 05 năm công tác | Trợ cấp 1 lần = 0,8 x Phụ cấp hàng tháng x Số tháng công tác Trợ cấp theo số năm công tác = 1,5 x Phụ cấp hàng tháng x Số năm công tác Trợ cấp tìm việc làm = 3 x Phụ cấp hàng tháng Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần |
Có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn dưới 05 năm đến tuổi nghỉ hưu | Trợ cấp 1 lần = 0,8 x Phụ cấp hàng tháng x Số tháng nghỉ hưu sớm Trợ cấp theo số năm công tác = 1,5 x Phụ cấp hàng tháng x Số năm công tác Trợ cấp tìm việc làm = 3 x Phụ cấp hàng tháng Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần |
Có từ đủ 05 năm công tác trở lên và có tuổi đời còn từ đủ 05 năm trở lên đến tuổi nghỉ hưu | Trợ cấp 1 lần = 48 x Phụ cấp hàng tháng Trợ cấp theo số năm công tác = 1,5 x Phụ cấp hàng tháng x Số năm công tác Trợ cấp tìm việc làm = 3 x Phụ cấp hàng tháng Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần |
Đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động | Trợ cấp 1 lần = 15 x Phụ cấp hàng tháng |
Rút ngắn nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố trong trường hợp nào?
Theo Điều 4 Nghị định 185/2026/NĐ-CP quy định UBND cấp xã quyết định rút ngắn nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố tối đa 6 tháng trong trường hợp cần bảo đảm thống nhất với thời điểm tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do tình huống bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức bầu cử đúng thời hạn.
Cụ thể theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 185/2026/NĐ-CP
- Nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 05 năm
- Trong trường hợp cần bảo đảm thống nhất với thời điểm tổ chức lại thôn, tổ dân phố hoặc do tình huống bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh không thể tổ chức bầu cử đúng thời hạn, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nhưng không quá 06 tháng. Trường hợp phải rút ngắn hoặc kéo dài quá 06 tháng thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];