Cá nhân làm tiếp thị liên kết (affiliate) có phải đóng thuế TNCN không?
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại điện tử 2025 quy định Người tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử là người giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên nền tảng số thông qua đường dẫn truy cập, mã giới thiệu hoặc phương thức tương tự do tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử tạo ra.
Theo điểm đ khoản 3 Điều 7 Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025 và theo Công văn 7403/CT-TMĐT năm 2026 Tải về của Cục Thuế hướng dẫn về nghĩa vụ thuế TNCN khi làm tiếp thị liên kết (affiliate). Theo đó cá nhân làm tiếp thị liên kết trên nền tảng thương mại điện tử có nghĩa vụ nộp thuế TNCN theo quy định của pháp luật theo mức thuế suất thuế TNCN là 5% trên doanh thu tính thuế.”
Trường hợp cá nhân nhận thu nhập từ tiếp thị liên kết theo hợp đồng lao động thì khoản thu nhập này được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định đối với tiền lương, tiền công.
- Đối với cá nhân cư trú: Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương tiền công theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần tính thuế TNCN được quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
- Đối với cá nhân không cư trú: Thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công mà cá nhân không cư trú nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 20%.

Cá nhân làm tiếp thị liên kết (affiliate) có phải đóng thuế TNCN không? (Hình từ Internet)
Cá nhân được giảm trừ lên tới 47 triệu đồng/năm khi tính thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản về y tế giáo dục nếu đáp ứng điều kiện như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế là 47 triệu đồng/năm bao gồm:
- Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
- Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm (cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo)
Đồng thời, tại khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân được giảm trừ chi phí y tế và giáo dục 47 triệu đồng/năm khi tính thuế TNCN nếu đáp ứng các điều kiện sau:
(1) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
(2) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
(3) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP còn quy định cá nhân muốn giảm trừ chi phí y tế, giáo dục 47 triệu đồng/năm phải tự quyết toán thuế.
Được miễn lập chứng từ khấu trừ thuế TNCN khi đáp ứng điều kiện gì?
Theo Điều 24 Nghị định 254/2026/NĐ-CP quy định về thời điểm lập chứng từ, theo đó, các khoản thu nhập sau đã được tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ, nộp thuế thu nhập cá nhân tại nguồn thì tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, bao gồm:
- Chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản số, chuyển nhượng vàng miếng
- Bản quyền, nhượng quyền thương mại
- Trúng thưởng, thừa kế, quà tặng.
Ngoài ra, trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];