Cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào?

12:35 | 28/09/2026
Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào?
Nội dung chính
  1. Cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào?
  2. Cá nhân không cư trú được xác định như thế nào?
  3. Kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định như thế nào?

Cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào?

Theo Điều 64 Nghị định 253/2026/NĐ-CP trường hợp cá nhân không cư trú làm việc đồng thời tại Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam, thu nhập chịu thuế tại Việt Nam được xác định theo công thức tùy từng trường hợp.

* Đối với trường hợp cá nhân người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam:

Trong đó: Tổng số ngày làm việc trong năm được tính theo chế độ quy định tại Bộ luật Lao động của Việt Nam.

* Đối với các trường hợp cá nhân người nước ngoài hiện diện tại Việt Nam:


Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam tại điểm a và b khoản này là các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả thay cho người lao động.

Cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào?

Cá nhân không cư trú làm việc cả ở Việt Nam và nước ngoài tính thu nhập chịu thuế thế nào? (Hình từ Internet)

Cá nhân không cư trú được xác định như thế nào?

Theo Điều 4, Điều 5 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, quy định cá nhân không cư trú theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân là người không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Theo đó, cá nhân cư trú là cá nhân đáp ứng một trong các điều kiện như sau:

- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trong đó, đối với cá nhân nhập cảnh, xuất cảnh, ngày đến được tính là một ngày, ngày đi được tính là một ngày, trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu, giấy thông hành hoặc các tài liệu liên quan tới mục đích nhập cảnh, xuất cảnh của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại khoản này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

+ Có nơi ở đăng ký thường trú, cụ thể như sau:

Đối với công dân Việt Nam: là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

Đối với người nước ngoài: là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khai khi đề nghị đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp;

+ Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi. Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

- Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 253/2026/NĐ-CP nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.

Kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định như thế nào?

Tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 252/2026/NĐ-CP có quy định kỳ quyết toán thuế được xác định theo kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật về kế toán.

Riêng kỳ quyết toán thuế TNCN được xác định theo năm dương lịch.

Trường hợp trong một năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tổng số ngày có mặt tại Việt Nam trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ quyết toán thuế TNCN của năm đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Cho thuê lại lao động Xem thêm

Lao Động Tiền Lương
Công văn 515: Hoạt động sản xuất linh kiện điện tử không thuộc danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động?

Ngày 31/3/2026, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội đã ban hành Công văn 515/CTL&BHXH-CSLĐ về việc hướng dẫn quy định pháp luật về cho thuê lại lao động. Theo đó, hoạt động sản xuất linh kiện điện tử không thuộc danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động?

Bài viết mới nhất