Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào kể từ ngày 01/7/2025?

Nguyễn Thành Đạt 808 lượt xem
10:10 | 30/06/2025
Kể từ ngày 01/7/2025 thì cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào?
Nội dung chính
  1. Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào kể từ ngày 01/7/2025?
  2. Cá nhân đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ thay số thuế TNCN thì có cần phải kê khai thuế TNCN đối với các hoạt động kinh doanh online đã khấu trừ hay không?
  3. Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online thì thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh được quy định như thế nào?

Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào kể từ ngày 01/7/2025?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 117/2025/NĐ-CP thì:

Hồ sơ, thủ tục kê khai, nộp thuế đối với cá nhân không cư trú nộp thuế trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán
1. Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán trực tiếp thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập cá nhân.
2. Tỷ lệ % tính thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ % tính thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau:
a) Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng
a.1) Hàng hóa: 1%
a.2) Dịch vụ: 5%
a.3) Vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa: 3%
b) Tỷ lệ % để tính thuế thu nhập cá nhân
b.1) Hàng hóa: 1%
b.2) Dịch vụ: 5%
b.3) Vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa: 2%
...

Theo đó, cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử không có chức năng thanh toán trực tiếp thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2025 thì cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán sẽ trực tiếp thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo tỷ lệ phần trăm (%) trên doanh thu theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007.

Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào kể từ ngày 01/7/2025?

Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online không có chức năng thanh toán có trách nhiệm nộp thuế TNCN như thế nào kể từ ngày 01/7/2025? (Hình từ Internet)

Cá nhân đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ thay số thuế TNCN thì có cần phải kê khai thuế TNCN đối với các hoạt động kinh doanh online đã khấu trừ hay không?

Căn cứ theo khoản 4 Điều 11 Nghị định 117/2025/NĐ-CP quy định:

Trách nhiệm của hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử
...
3. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế phải nộp cho các tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay và chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của Nghị định này.
4. Hộ, cá nhân đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ, kê khai, nộp thay số thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định này thì không phải khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử đã khấu trừ, nộp thuế thay.

Theo đó, cá nhân đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ thay số thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định 117/2025/NĐ-CP thì không phải kê khai thuế thu nhập cá nhân đối với các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử đã khấu trừ thay.

Như vậy, đối với cá nhân có các hoạt động kinh doanh online đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ thay số thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định 117/2025/NĐ-CP thì không phải kê khai thuế thu nhập cá nhân đã được khấu trừ thay.

Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online thì thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh được quy định như thế nào?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 25 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 thì:

Thuế đối với thu nhập từ kinh doanh
1. Thuế đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân không cư trú được xác định bằng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều này nhân với thuế suất quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Doanh thu là toàn bộ số tiền phát sinh từ việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả chi phí do bên mua hàng hoá, dịch vụ trả thay cho cá nhân không cư trú mà không được hoàn trả.
Trường hợp thoả thuận hợp đồng không bao gồm thuế thu nhập cá nhân thì doanh thu tính thuế phải quy đổi là toàn bộ số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được dưới bất kỳ hình thức nào từ việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam không phụ thuộc vào địa điểm tiến hành các hoạt động kinh doanh.
3. Thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh quy định đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau:
a) 1% đối với hoạt động kinh doanh hàng hoá;
b) 5% đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ;
c) 2 % đối với hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải và hoạt động kinh doanh khác.

Theo đó, thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh quy định đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau:

- 1% đối với hoạt động kinh doanh hàng hoá;

- 5% đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ;

- 2 % đối với hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải và hoạt động kinh doanh khác.

Như vậy, cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh online thì thuế suất đối với thu nhập từ kinh doanh được quy định theo từng lĩnh vực, ngành nghề như trích dẫn trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thành Đạt Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế thu nhập cá nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất

Lao Động Tiền Lương
Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng thì có được khám sức khỏe định kỳ không?

Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng tại doanh nghiệp có được khám sức khỏe định kỳ không? Trường hợp nào người lao động được khám sức khỏe định kỳ, tần suất khám sức khỏe được quy định như thế nào và người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe cho người lao động ra sao?

Lao Động Tiền Lương
Khi nào người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp?

Khi nào người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành? Trường hợp nào người lao động được xác định đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính như thế nào và việc xác định tình trạng đang đóng bảo hiểm thất nghiệp ảnh hưởng ra sao đến điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp?

Lao Động Tiền Lương
Lịch nghỉ phép năm do ai quy định?

Lịch nghỉ phép năm của người lao động do người sử dụng lao động quyết định hay phải có sự thỏa thuận với người lao động? Pháp luật quy định như thế nào về việc xây dựng lịch nghỉ phép năm và trách nhiệm thông báo lịch nghỉ đến người lao động?