Người lao động làm các nghề, công việc nào có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp?

Nguyễn Thị Kim Linh 89 lượt xem
01:55 | 09/06/2026
Các nghề, công việc mà người lao động làm có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp được hướng dẫn tại Mục 3 Phụ lục 4 Thông tư 60/2025/TT-BYT.
Nội dung chính
  1. Người lao động làm các nghề, công việc nào có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp?
  2. Người lao động bị bệnh nghề nghiệp được giám định mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp nào?
  3. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động bao nhiêu % được hưởng trợ cấp một lần?

Người lao động làm các nghề, công việc nào có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp?

Căn cứ theo Mục 3 Phụ lục 4 Hướng dẫn chẩn đoán, giám định suy giảm khả năng lao động do bệnh bụi phổi than nghề nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 60/2025/TT-BYT, người lao động làm các nghề, công việc dưới đây có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp:

- Gốm sứ;

- Giấy;

- Chất dẻo (plastic);

- Sơn;

- Cao su;

- Mỹ phẩm;

- Dược phẩm;

- Các nghề, công việc khác có tiếp xúc với bụi talc.

Xem thêm:

Đáp án Cuộc thi Tìm hiểu An toàn vệ sinh lao động năm 2026 tỉnh Khánh Hòa như thế nào?

Người lao động làm các nghề, công việc nào có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp?

Người lao động làm các nghề, công việc nào có thể bị bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp? (Hình từ Internet)

Người lao động bị bệnh nghề nghiệp được giám định mức suy giảm khả năng lao động trong trường hợp nào?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định như sau:

Điều 47. Giám định mức suy giảm khả năng lao động
1. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị thương tật, bệnh tật lần đầu đã được điều trị ổn định còn di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe;
b) Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định;
c) Đối với trường hợp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì người lao động được làm thủ tục giám định trước hoặc ngay trong quy trình điều trị.
2. Người lao động được giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp;
b) Bị tai nạn lao động nhiều lần;
c) Bị nhiều bệnh nghề nghiệp.
3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được giám định lại tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau 24 tháng, kể từ ngày người lao động được Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động liền kề trước đó; trường hợp do tính chất của bệnh nghề nghiệp khiến người lao động suy giảm sức khỏe nhanh thì thời gian giám định được thực hiện sớm hơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Như vậy, người lao động bị bệnh nghề nghiệp được giám định mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Sau khi bị thương tật, bệnh tật lần đầu đã được điều trị ổn định còn di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe;

- Sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định;

- Đối với trường hợp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì người lao động được làm thủ tục giám định trước hoặc ngay trong quy trình điều trị.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động bao nhiêu % được hưởng trợ cấp một lần?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định như sau:

Điều 48. Trợ cấp một lần
1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.
2. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:
a) Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;
b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.
3. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết việc tính hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong trường hợp người lao động thay đổi mức hưởng trợ cấp do giám định lại, giám định tổng hợp.

Như vậy, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

Nguyễn Thị Kim Linh
Nguyễn Thị Kim Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Lao động - Tiền lương Xem thêm

Bài viết mới nhất