Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 47/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 19/7/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 186/2019/TLST- HNGĐ ngày 14/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 17/6/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huyền Trang, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt).

HKTT: Số 60 đường Nguyễn Duy Năng, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Số 60 đường Nguyễn Ngọc Lân, phường YNa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Phạm Tú Anh, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

HKTT: Số 60 đường Nguyễn Duy Năng, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Huyền Trang trình bày:

Chị và anh Phạm Tú Anh đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị và anh Tú Anh kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn với nhau, đã được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo nghi lễ truyền thống. Sau khi được gia đình tổ chức lễ cưới thì chị và anh Tú Anh về chung sống với nhau ngay với gia đình nhà anh Tú Anh tại phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng đến đầu năm 2017, thì cuộc sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Tú Anh nghiện ma túy không có công việc ổn đình, từ đó kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng cãi vã thường xuyên, vợ chồng sống chung không hạnh phúc. Vợ chồng, hai bên gia đình đã hết sức hòa giải nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn mâu thuẫn như vậy. Khi không thể sống chung được nữa thì vợ chồng ly thân, chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 01/2017. Vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng gì với anh Tú Anh nữa. Chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Tú Anh.

Về con chung, về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh Tú Anh không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản xác minh ngày 29/5/2019, cha đẻ của anh Tú Anh là ông Phạm Đình Quyền cung cấp:

Anh Tú Anh và chị Trang là vợ chồng, hiện anh Tú Anh đang sinh sống cùng với ông tại địa phương. Sau khi kết hôn thì anh Tú Anh và chị Trang về chung sống ngay với ông tại địa phương. Tuy nhiên, đến năm 2018 thì cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 02/2018 thì vợ chồng ly thân, chị Trang đi nơi khác sinh sống, chỉ thi thoảng về thăm ông và anh Tú Anh. Chị Trang và anh Tú Anh không có con chung hay tài sản gì.

Ngày 05/6/2019, chị Trang có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh Tú Anh nhưng anh Tú Anh vẫn vắng mặt, không có lý do và không có quan điểm thể hiện việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện, quan điểm giải quyết vụ án của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ Tòa án xác minh được trong quá trình giải quyết vụ án.

Tòa án không tiến hành tranh luận tại phiên tòa do vắng mặt các đương sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử; Xử:

+ Chị Phạm Thị Huyền Trang được ly hôn anh Phạm Tú Anh.

+ Về án phí: Chị Trang phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trang thì thấy đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là chị Trang có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn là anh Tú Anh đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với chị Trang và anh Tú Anh.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trang và anh Tú Anh kết hôn ngày 30 tháng 9 năm 2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xác nhận là hôn nhân hợp pháp.

Qua xác minh, cũng như theo trình bày của chị Trang thì cuộc sống vợ chồng đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Mặt khác, Toà án đã triệu tập anh Tú Anh lên làm việc nhiều lần nhưng anh Tú Anh đều vắng mặt, không có lý do. Điều đó, chứng tỏ anh Tú Anh không có nguyện vọng níu giữ quan hệ hôn nhân với chị Trang.

Có thể thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trang và anh Tú Anh đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử cho chị Trang được ly hôn với anh Tú Anh.

[2.2] Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3] Về án phí: Chị Trang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khon 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền Trang được ly hôn anh Phạm Tú Anh.

2. Về án phí:

Chị Trang phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo biên lai số AA/2016/0000441 ngày 13/5/2019. Xác nhận chị Trang thi hành xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Chị Trang, anh Tú Anh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:47/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về