Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 25/03/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 21/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/03/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 25 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2019/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về việc: “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐST- HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Phước Thái, xã Mỹ Phước, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

2/ Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1971 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Phước Thái, xã Mỹ Phước, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị D trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị D và ông Trần Văn B được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 1999, bà D và ông B chung sống với nhau từ đó cho đến nay nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhau và chưa được cơ quan có thẩm quyền nào cấp giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu từ năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn do ông bà không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, lớn tiếng với nhau. Đến đầu năm 2012 bà D và ông B đã ly thân cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt mục đíchnên bà D yêu cầu Tòa án không công nhận mối quan hệ giữa bà và ông B là vợ chồng.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà D và ông B có với nhau hai người conchung  tên  Trần  Thị  Giang,  sinh  ngày  18/4/2001  và  Trần  Thị  Hạnh,  sinh  ngày18/4/2001. Các con chung hiện đang sống cùng với bà D. Ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/3/2019 và tại các buổi làm việc tại Tòa án ông Trần Văn B trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Ông B và bà D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 đến nay và chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn là đúng sự thật. Quá trình chung s ống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, không hòa hợp được nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2012 cho đến nay. Nay bà Trần Thị D yêu cầu được ly hôn với ông B thì ông B cũng đồng ý do nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và cũng không thể hàn gắn được.

- Về con chung: Có hai người con chung như bà D trình bày là đúng. Hiện các con đều sống cùng bà D. Ly hôn ông B đồng ý giao các con chung cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và ông không cấp dưỡng nuôi con chung do bà D không yêu cầu.

- Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định  của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

- Về nội D vụ án: qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị D và ông Trần Văn B là vợ chồng. Về con chung: đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn B giao hai cháu Trần Thị Giang, sinh ngày 18/4/2001 và Trần Thị Hạnh, sinh ngày 18/4/2001 cho bà Trần Thị D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án xem

xét nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cưu cac tai liêu co trong hô sơ vu an và đa đươc thẩm tra tai phiên Tòa, căn cư kêt qua tranh luận tai phiên toa Hôi đông xet xư nhân đinh vụ án này như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông

Trần Văn B, ông B nhận đầy đủ nhưng do bận công việc nên ông B có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Đối với tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa bà Trần Thị D và ông Trần Văn B. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

[3] Về nội D vụ án: Bà Trần Thị D và ông Trần Văn B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, tuy gia đình hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn và chưa được cơ quan có thẩm quyền nào cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Việc này đã vi phạm Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: …1.“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức tại Điều 14 của Luật này. Mọi nghi thức kết hôn không theo nghi thức tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý. Nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng…”.

Đồng thời tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

…1.“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý…”.

Như vậy việc bà D và ông B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị D và ông Trần Văn B không có giá trị pháp lý và không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình làm việc tại Tòa án bà D và ông B đều trình bày sau khi chung sống với nhau một thời gian thì giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được và hiện tại cũng đã ly thân với nhau từ năm 2012 cho đến nay, ông bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Do đó việc Hội đồng xét xử tuyên bố quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông B không có giá trị pháp lý là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự.

Về con chung: Bà Trần Thị D và ông Trần Văn B có hai người con chung tên Trần Thị Giang, sinh ngày 18/4/2001 và Trần Thị Hạnh, sinh ngày 18/4/2001, các đương sự đều trình bày hiện các con đang sống cùng bà D, bà D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con. Tại các bản khai và biên bản hòa giải phía ông B đồng ý với yêu cầu này của bà D. Do đó HĐXX ghi nhận sự tự nguyện sự thỏa thuận của ông B.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà Trần Thị D không yêu cầu nên HĐXX miễn xét.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở để được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình: Bà Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng Điều  11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, các Điều 8, Điều 9, Điều 14, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

- Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 củaỦy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

1/. Vê hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị D và ông Trần Văn B là vợ chồng.

2/. Vê con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn B đồng ý giao cháu Trần Thị Giang, sinh ngày 18/4/2001 và Trần Thị Hạnh, sinh ngày 18/4/2001 cho bà Trần Thị D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trần Thị D không yêu cầu.

Ông Trần Văn B có quyền được thăm nom , chăm soc con chung không ai đươc quyên ngăn can theo quy định của pháp luật.

3/. Về tài sản chung và nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4/. Vê an phi hôn nhân gia đình sơ thẩm  : Bà Trần Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm la 300.000 đồng. Đối trư sô tiên tam ưng an phi đa nôp theo biên lai thu sô  0000728 ngày 20/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đo bà Trần Thị D không phai nôp thêm.

5/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 25/03/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:21/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về