Bản án 186/2020/HNGĐ-ST ngày 18/09/2020 về việc ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 186/2020/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2020 VỀ VIỆC LY HÔN

Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 414/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 154/2020/QĐST-HGNĐ, ngày 08 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng A; Nơi cư trú: Xóm P, xã K, huyện T, thành phố H; Vắng mặt (Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Tiến; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã K, huyện T, thành phố H; Nơi ở hiện nay: Thôn 01, M, xã K, huyện T, thành phố H; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là A Nguyễn Hoàng A trình bày: A và chị Đỗ Thị Tiến kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 18 tháng 4 năm 2011, sau khi cưới vợ chồng về ăn ở cùng gia đình A Nguyễn Hoàng A tại xóm P, xã K, huyện T, thành phố H. Quá trình chung sống sau khi kết hôn được vài tháng vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn và căng thẳng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn phát triển kinh tế nên vợ chồng xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau, do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm nhau, chị Tiến đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 01, M, xã K, huyện T, thành phố H sinh sống từ ngày 20/6/2012 A đã đi tìm gọi về nhiều lần nhưng chị Tiến không về. Nay A Nguyễn Hoàng A đề nghị Tòa án giải quyết cho A được ly hôn chị Đỗ Thị Tiến.

- Về con chung: A Nguyễn Hoàng A trình bày do vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn nên không có con chung. Vì vậy khi ly hôn A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: A Nguyễn Hoàng A trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Đỗ Thị Tiến vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án thông báo cho chị Đỗ Thị Tiến biết việc A Nguyễn Hoàng A xin ly hôn, song chị Đỗ Thị Tiến không đến Tòa án trình bày quan điểm và cũng không có văn bản, giấy tờ nào gửi đến Tòa án trình bày ý kiến về việc A Nguyễn Hoàng A xin ly hôn. Do vậy căn cứ theo quy định của pháp luật Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị Đỗ Thị Tiến vẫn vắng mặt không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của A Nguyễn Hoàng A.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn A Nguyễn Hoàng A đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chị Đỗ Thị Tiến vắng mặt nên chưa chấp hành đúng pháp luật, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 92, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là A Nguyễn Hoàng A tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Đỗ Thị Tiến; Về quan hệ hôn nhân: Cho A Nguyễn Hoàng A được ly hôn chị Đỗ Thị Tiến; Về con chung: A Nguyễn Hoàng A trình bày do vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn nên không có con chung, vì vậy khi ly hôn A không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: A Nguyễn Hoàng A trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy kiểm sát viên không đề cập giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Hoàng A; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã K và Công an xã K, huyện T, thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng Nguyên đơn A Nguyễn Hoàng A vắng mặt, song có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Đỗ Thị Tiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân A Nguyễn Hoàng A và chị Đỗ Thị Tiến kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, ngày 18/4/2011 là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, nghi ngờ nhau, do mâu thuẫn căng thẳng không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân nhau một thời gian dài từ tháng 6/2012 không còn quan tâm nhau. Nay để ổn định cuộc sống, làm ăn A Nguyễn Hoàng A quyết tâm đề nghị Tòa án giải quyết cho A được ly hôn chị Đỗ Thị Tiến. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị Tiến đến Tòa án để trình bày quan điểm về việc A Nguyễn Hoàng A xin ly hôn, song chị Tiến đều vằng mặt điều đó thể hiện chị Đỗ Thị Tiến không mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Đỗ Thị Tiến, tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị Đỗ Thị Tiến vẫn vắng mặt không có văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án trình bày về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của A Nguyễn Hoàng A. Hội đồng xét xử, xét: Mâu thuẫn vợ chồng giữa A Nguyễn Hoàng A và chị Đỗ Thị Tiến đã kéo dài, trầm trọng khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A Nguyễn Hoàng A, cho A Nguyễn Hoàng A được ly hôn chị Đỗ Thị Tiến.

[3]. Về con chung A Nguyễn Hoàng A trình bày do vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn nên không có con chung, khi ly hôn A không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung A Nguyễn Hoàng A trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn chị Đỗ Thị Tiến vắng mặt chưa có ý kiến trình bày về tài sản chung, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí sơ thẩm Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. A Nguyễn Hoàng A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 92, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho A Nguyễn Hoàng A được ly hôn chị Đỗ Thị Tiến.

2. Về án phí: A Nguyễn Hoàng A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002016, ngày 12 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành phố H. A Nguyễn Hoàng A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 186/2020/HNGĐ-ST ngày 18/09/2020 về việc ly hôn

Số hiệu:186/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về