Tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không?

Trần Hồng Oanh 470 lượt xem
11:35 | 30/06/2022
Tôi muốn biết một số vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp, cụ thể là nhãn hiệu như sau. Việc tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không? Đối với quyền này, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng hay không? Nếu chuyển nhượng được thì cần có những nội dung gì trong hợp đồng?
Nội dung chính
  1. Tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không?
  2. Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng là nhãn hiệu có thể chuyển nhượng quyền sở hữu của mình hay không?
  3. Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp với đối tượng là nhãn hiệu được bảo hộ gồm những gì?

Tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không?

Căn cứ khoản 5 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có quy định hình thức sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, cụ thể là đối với nhãn hiệu như sau:

"Điều 124. Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
[...]
5. Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ."

Theo đó, hành vi tàng trữ để mua bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ là một hình thức sử dụng hợp pháp đối với nhãn hiệu. Trường hợp việc tàng trữ được thực hiện nhằm mục đích khác thì có thể bị xem xét có vi phạm pháp luật hay không.

Đồng thời, những hành vi bị xem là xâm phạm về quyền đối với nhãn hiệu được quy định cụ thể tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2006 bao gồm:

"Điều 129. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng."

Tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không?

Tổ chức tàng trữ những hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ có phải là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không?

Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng là nhãn hiệu có thể chuyển nhượng quyền sở hữu của mình hay không?

Căn cứ Điều 138 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có quy định như sau:

"Điều 138. Quy định chung về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
1. Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.
2. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp)."

Theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp hoàn toàn có thể chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Hình thức này được gọi là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.

Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp với đối tượng là nhãn hiệu được bảo hộ gồm những gì?

Việc chuyển nhượng cần được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản với những nội dung quy định tại Điều 140 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 gồm:

"Điều 140. Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng;
2. Căn cứ chuyển nhượng;
3. Giá chuyển nhượng;
4. Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng."

Như vậy, pháp luật hiện hành quy định cụ thể đối với những hình thức sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu. Đồng thời cũng có quy định chi tiết các hành vi bị xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Bên cạnh đó, việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp nói chung và đối với đối tượng là nhãn hiệu nói riêng, hình thức chuyển nhượng và nội dung hợp đồng chuyển nhượng cũng được quy định cụ thể như trên.

Tải về mẫu Tờ khai đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp mới nhất 2023: Tại Đây

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Hồng Oanh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Sở hữu trí tuệ Xem thêm

Pháp luật
Cơ chế hỗ trợ phát triển trí tuệ nhân tạo thông qua chia sẻ tự nguyện dưới hình thức phi tài chính từ 1/5/2026 chi tiết ra sao?

Cơ chế hỗ trợ phát triển trí tuệ nhân tạo thông qua chia sẻ tự nguyện phi tài chính cho phép tiếp cận hạ tầng tính toán và dịch vụ kỹ thuật mà không làm thay đổi quyền sở hữu tài nguyên. Tìm hiểu quy trình đăng ký và nguyên tắc thực hiện theo Nghị định 142/2026/NĐ-CP từ ngày 1/5/2026.

Pháp luật
Không gắn nhãn video hình ảnh AI có bị xử lý Hình sự không?

Từ ngày 01/3/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 đặt ra nghĩa vụ minh bạch đối với một số nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa. Việc không gắn nhãn video, hình ảnh AI có thể bị xử lý thế nào? Bài viết phân tích nghĩa vụ thông báo, gắn nhãn, xử phạt hành chính và các trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành năm 2026.

Bài viết mới nhất