Tài khoản thanh toán là gì?

Tài khoản thanh toán
Theo khoản 35 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024), Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để sử dụng dịch vụ thanh toán do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung ứng.
Trước đây, tại khoản 22 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 giải thích:
“Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.”
Theo đó, tài khoản thanh toán là một loại tài khoản ngân hàng được khách hàng mở với mục đích thực hiện các dịch vụ thanh toán một cách dễ dàng, thuận tiện.
Tổ chức nào được phép cung ứng dịch vụ thanh toán?
Theo Điều 2 Thông tư 17/2024/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024) quy định:
Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được mở tài khoản thanh toán bao gồm:
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước);
b) Ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã (sau đây gọi tắt là ngân hàng);
c) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2. Tổ chức, cá nhân mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (sau đây gọi tắt là khách hàng).
3. Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Theo đó, việc mở tài khoản thanh toán phải được tiến hành tại các cơ quan trên mới được xem là đúng với quy định của pháp luật.
Trước đây, Khoản 1 Điều 2 Thông tư 23/2014/TT-NHNN liệt kê những tổ chức được phép cung ứng dịch vụ thanh toán, gồm:
- Ngân hàng Nhà nước;
- Ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã (sau đây gọi tắt là ngân hàng);
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, việc mở tài khoản thanh toán phải được tiến hành tại các cơ quan trên mới được xem là đúng với quy định của pháp luật.
Ai được được quyền mở tài khoản thanh toán?
Theo Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định một số đối tượng được mở tài khoản thanh toán gồm:
(1) Mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng nhà nước (Điều 7 Thông tư 17/2024/TT-NHNN, được sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 25/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 31/08/2025)
- Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức sau:
+ Tổ chức tín dụng (trụ sở chính);
+ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam;
+ Kho bạc Nhà nước Trung ương;
+ Các tổ chức khác theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 52/2024/NĐ-CP.
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực mở tài khoản thanh toán cho các đơn vị Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
(2) Mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Điều 11 Thông tư 17/2024/TT-NHNN)
- Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
+ Người từ đủ 15 tuổi trở lên không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Việt Nam;
+ Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
- Tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân (pháp nhân Việt Nam, pháp nhân nước ngoài), doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Trước đây, Thông tư 23/2014/TT-NHNN quy định một số đối tượng được mở tài khoản thanh toán gồm:
(1) Mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng nhà nước: quy định tại Điều 7 Thông tư 23/2014/TT-NHNN:
- Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức sau:
+ Tổ chức tín dụng (trụ sở chính);
+ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam;
+ Kho bạc Nhà nước Trung ương.
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố) mở tài khoản thanh toán cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Kho bạc Nhà nước trên địa bàn.
(2) Mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: quy định tại Điều 11 Thông tư 23/2014/TT-NHNN, sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Thông tư 02/2019/TT-NHNN, gồm:
- Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Người chưa đủ 15 tuổi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
- Tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: tổ chức là pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và các tổ chức khác được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Được mở tài khoản thanh toán để giao dịch với công ty cho thuê tài chính không?
Theo khoản 1 Điều Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định:
Đối tượng mở tài khoản thanh toán
1. Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
a) Người từ đủ 15 tuổi trở lên không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật Việt Nam;
b) Người chưa đủ 15 tuổi, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người đại diện theo pháp luật;
c) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật Việt Nam mở tài khoản thanh toán thông qua người giám hộ.
Tại khoản 1 Điều 17 Thông tư 17/2024/TT-NHNN cũng quy định:
Sử dụng tài khoản thanh toán
1. Chủ tài khoản được sử dụng tài khoản thanh toán để nộp, rút tiền mặt và yêu cầu ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản như: cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ gia tăng khác phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Khoản 4 Điều 17 Thông tư 26/2024/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024) quy định:
Bên thuê tài chính có nghĩa vụ
...
4. Thanh toán đầy đủ, đúng hạn tiền thuê tài chính và các chi phí khác có liên quan đến tài sản thuê tài chính theo quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính.
Theo những quy định trên, có thể thấy khách hàng là cá nhân/ tổ chức được quyền mở tài khoản thanh toán để yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy, tổ chức được quyền cung ứng dịch vụ thanh toán và chủ thể được phép mở tài khoản thanh toán được quy định cụ thể, nhằm đảm bảo các đối tượng trên hoạt đông theo đúng giới hạn. Ngoài ra, pháp luật chỉ yêu cầu bên thuê tài chính (khách hàng) thanh toán mà không ràng buộc về hình thức thanh toán nên khách hàng có thể mở tài khoản thanh toán để giao dịch với công ty cho thuê tài chính.
Trước đây, tại điểm a khoản 1 Điều 11 Thông tư 23/2014/TT-NHNN, sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Thông tư 02/2019/TT-NHNN quy định về đối tượng mở tài khoản thanh toán, trong đó có:
“1. Cá nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:
a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;"
Tại khoản 1 Điều 15 Thông tư 23/2014/TT-NHNN quy định về sử dụng tài khoản thanh toán:
“Chủ tài khoản được sử dụng tài khoản thanh toán để nộp, rút tiền mặt và yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản như: cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và các dịch vụ gia tăng khác phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.”
Tại Điều 20 Nghị định 39/2014/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ của bên thuê tài chính, trong đó có:
“4. Trả tiền thuê và thanh toán các chi phí khác có liên quan đến tài sản thuê theo quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính.
[…]
8. Thanh toán đầy đủ số tiền thuê còn lại và các chi phí phát sinh khi tài sản thuê bị mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa được hoặc khi chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn do bên thuê vi phạm các điều khoản, điều kiện là căn cứ chấm dứt hợp đồng được quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính.”
Theo những quy định trên, có thể thấy khách hàng là cá nhân/ tổ chức được quyền mở tài khoản thanh toán để yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy, tổ chức được quyền cung ứng dịch vụ thanh toán và chủ thể được phép mở tài khoản thanh toán được quy định cụ thể, nhằm đảm bảo các đối tượng trên hoạt đông theo đúng giới hạn. Ngoài ra, pháp luật chỉ yêu cầu bên thuê tài chính (khách hàng) thanh toán mà không ràng buộc về hình thức thanh toán nên khách hàng có thể mở tài khoản thanh toán để giao dịch với công ty cho thuê tài chính.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];