Thông tư 51 quy định về việc thực hiện công tác xã hội được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 1 Thông tư 51/2024/TT-BYT có quy định như sau:
Phạm vi điều chỉnh
1. Thông tư này quy định về:
a) Dịch vụ công tác xã hội trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội;
c) Nội dung kế hoạch can thiệp và đánh giá kế hoạch can thiệp.
2. Thông tư này áp dụng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức bệnh viện.
Như vậy, Thông tư 51/2024/TT-BYT quy định về thực hiện công tác xã hội sẽ được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức bệnh viện.

Thông tư 51 quy định về việc thực hiện công tác xã hội được áp dụng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh thế nào? (Hình từ Internet)
Nhân lực của cơ sở khám bệnh chữa bệnh khi thực hiện dịch vụ công tác xã hội cần bảo đảm nguyên tắc nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 51/2024/TT-BYT có quy định như sau:
Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Bố trí nguồn lực để thực hiện dịch vụ công tác xã hội theo quy định tại Thông tư này, trong đó về nhân lực phải bảo đảm nguyên tắc mỗi khoa, phòng, đơn vị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phân công tối thiểu một nhân viên là đầu mối tổ chức triển khai hoạt động công tác xã hội của khoa, phòng, đơn vị. Căn cứ nhu cầu công việc, điều kiện và tình hình thực tế, Giám đốc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện một trong các mô hình công tác xã hội sau đây:
a) Tổ Công tác xã hội;
b) Phòng Công tác xã hội;
c) Trung tâm Công tác xã hội.
2. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức công tác xã hội cho người làm công tác xã hội của cơ sở.
3. Đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức công tác xã hội, tổ chức việc thực hành công tác xã hội và cấp giấy chứng nhận cập nhật kiến thức công tác xã hội, giấy xác nhận thực hành công tác xã hội theo quy định của pháp luật.
Như vậy, cơ sở khám bệnh chữa bệnh có trách nhiệm bố trí nguồn lực để thực hiện dịch vụ công tác xã hội theo quy định tại Thông tư 51/2024/TT-BYT, trong đó về nhân lực phải bảo đảm nguyên tắc mỗi khoa, phòng, đơn vị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phân công tối thiểu một nhân viên là đầu mối tổ chức triển khai hoạt động công tác xã hội của khoa, phòng, đơn vị.
Bên cạnh đó, căn cứ nhu cầu công việc, điều kiện và tình hình thực tế, Giám đốc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện một trong các mô hình công tác xã hội sau đây:
- Tổ Công tác xã hội;
- Phòng Công tác xã hội;
- Trung tâm Công tác xã hội.
Nguyên tắc của công tác xã hội được pháp luật quy định như thế nào?
Căn cứ theo Điều 5 Nghị định 110/2024/NĐ-CP có quy định như sau:
Theo đó, nguyên tắc của công tác xã hội được pháp luật quy định, cụ thể như sau:
(1) Tôn trọng và phát huy quyền lựa chọn, quyền quyết định mà không phân biệt giá trị, niềm tin, tư tưởng và cuộc sống của đối tượng và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
(2) Thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của đối tượng bằng cách giúp đối tượng tự quyết định và giải quyết các vấn đề có ảnh hưởng đến cuộc sống.
(3) Tập trung vào điểm mạnh, tận dụng các nguồn lực sẵn có của đối tượng để thúc đẩy việc trao quyền.
(4) Chịu trách nhiệm đối với các hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội, bảo đảm đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp và chất lượng.
(5) Thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm cung cấp nguồn lực một cách công bằng, minh bạch theo nhu cầu của đối tượng.
(6) Tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế - xã hội, màu da, chủng tộc, vùng miền, quốc tịch, quan điểm chính trị, tín ngưỡng tôn giáo và các đặc điểm sức khỏe của đối tượng.
(7) Bảo đảm mọi quyết định đưa ra vì lợi ích tốt nhất của đối tượng.
Lưu ý: Trong hoạt động công tác xã hội pháp luật nghiêm cấm thực hiện các hành vi bao gồm:
- Cung cấp, công bố, tiết lộ, phá hủy thông tin, dữ liệu cá nhân của đối tượng mà không được sự đồng ý của đối tượng hoặc người giám hộ hoặc người đại diện trừ trường hợp cơ quan, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Từ chối cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật.
- Lợi dụng việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội để trục lợi hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.
- Lợi dụng hành nghề công tác xã hội để trục lợi chế độ, chính sách của nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân.
- Thu các khoản chi phí, lợi ích ngoài khoản thù lao và chi phí được thoả thuận thống nhất với tổ chức, cá nhân trong hợp đồng cung cấp dịch vụ công tác xã hội, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Lợi dụng hành nghề công tác xã hội, cung cấp dịch vụ công tác xã hội để xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
(Nội dung được quy định tại Điều 10 Nghị định 110/2024/NĐ-CP)
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];