Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào? Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?

Lê Nhựt Hào 2,847 lượt xem
05:00 | 05/05/2026
Cho hỏi thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào? Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam? Câu hỏi của chị Tú đến từ Hậu Giang.
Nội dung chính
  1. Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào?
  2. Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?
  3. Có được gia hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự không?

Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào?

Trước đây, căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về thẩm quyền gia hạn tạm giam như sau:

- Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với những vụ án không do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng.

- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân khu có quyền gia hạn tạm giam:

+ Đối với những vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng;

+ Gia hạn tạm giam lần thứ nhất, lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền gia hạn điều tra đối với những vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn điều tra trong trường hợp:

+ Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền gia hạn tạm giam.

+ Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn tạm giam.

Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2025 thẩm quyền gia hạn tạm giam được thực hiện theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 như sau:

- Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng.

Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

- Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào? Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?

Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định như thế nào? Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?

Ai có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam?

Trước đây, căn cứ vào Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định như sau:

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
2. Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Như vậy, thẩm quyền quyết định, ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam được thực hiện theo quy định nêu trên

Từ ngày 1/7/2025, theo Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đước sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 thì những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.

Có được gia hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự không?

Căn cứ vào khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định như sau:

Thời hạn tạm giam để điều tra
...
2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Như vậy, có thể gia hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự khi vụ án hình sự có nhiều chi tiết phức tạp và cần có thêm thời gian để điều tra, xét thấy không có căn cứ thay đổi hay hủy bỏ biện pháp tạm giam thì cơ quan điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Thời hạn được gia hạn tạm giam sẽ được xác định dựa trên mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định trên.

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định như sau:

Thời hạn tạm giam để điều tra
1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đó thì thời hạn tạm giam sẽ được căn cứ theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm theo quy định trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào áp dụng tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn? Phạm tội vì động cơ đê hèn có phải là tình tiết tăng nặng không?

Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn là một trong những nội dung cần xem xét khi quyết định bản án đối với người phạm tội. Vì đây có thể là tình tiết định khung hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất