Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ban hành quyết định không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền hủy bỏ quyết định đó không?

Phạm Thị Xuân Hương 3,167 lượt xem
04:03 | 15/04/2026
Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có được quyền thay đổi Điều tra viên của vụ án hình sự không? Khi tiến hành tố tụng hình sự Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn nào và có được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình không? Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ban hành quyết định không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền hủy bỏ quyết định đó không? - Câu hỏi của Minh Trung (Cần Thơ)
Nội dung chính
  1. Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có được quyền thay đổi Điều tra viên của vụ án hình sự không?
  2. Khi tiến hành tố tụng hình sự Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn nào?
  3. Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình không?
  4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền hủy quyết định của Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ban hành không có căn cứ không?

Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có được quyền thay đổi Điều tra viên của vụ án hình sự không?

Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có được quyền thay đổi Điều tra viên của vụ án hình sự không?

Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có được quyền thay đổi Điều tra viên của vụ án hình sự không? (Hình từ Internet)

Căn cứ khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
1. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Điều tra viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra ủy quyền cho một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền.

Chiếu theo quy định này, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra sẽ được quyền thay đổi Điều tra viên nếu có căn cứ chứng minh Thủ trưởng Cơ quan điều tra ủy quyền cho Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện việc này.

Khi tiến hành tố tụng hình sự Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn nào?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
...
3. Khi được phân công tiến hành việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.

Như vậy, khi tiến hành tố tụng hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bao gồm:

(1) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định ủy thác điều tra;

(2) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ luật này;

(3) Quyết định truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;

(4) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;

(5) Trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và tiến hành các biện pháp điều tra;

(6) Kết luận điều tra vụ án;

(7) Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra vụ án, bị can;

(8) Ra các lệnh, quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra;

(9) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.

Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình không?

Căn cứ khoản 4 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
...
4. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này.

Như vậy, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền hủy quyết định của Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ban hành không có căn cứ không?

Căn cứ khoản 1 Điều 13 Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 quy định như sau:

Phát hiện và xử lý vi phạm
1. Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án, vụ việc phải kịp thời phát hiện, theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp luật của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra để yêu cầu khắc phục; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật khi tiến hành hoạt động kiểm tra, xác minh, điều tra. Nếu vi phạm của Điều tra viên, Cán bộ điều tra có dấu hiệu tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự trung ương để chỉ đạo Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với lệnh, quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng, Cấp phó Cơ quan có thẩm quyền điều tra, thì lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi, hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ. Đối với lệnh, quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Thủ trưởng, Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.
Đối với lệnh, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.
Trường hợp Viện kiểm sát quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền điều tra thì phải gửi ngay cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để thực hiện.

Tại khoản 1 Điều 13 Quyết định 06/QĐ-VKSTC năm 2026 quy định như sau:

Phát hiện và xử lý vi phạm
1. Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ việc, vụ án phải kịp thời phát hiện, theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra để yêu cầu khắc phục; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật; nếu có dấu hiệu tội phạm thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện chỉ đạo và chuyển ngay nguồn tin đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời có văn bản thông báo đến Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra án tư pháp (Vụ 6).
Đối với lệnh, quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì xử lý như sau:
a) Lệnh, quyết định của Phó Thủ trưởng, Cấp phó cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi, hủy bỏ; nếu không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ;
b) Lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ;
c) Lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm quyền điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn thì lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.
Trường hợp Viện kiểm sát quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định theo quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì phải gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để thực hiện.

Như vậy, đối với quyết định không có căn cứ của Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định hủy bỏ quyết định đó.

Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Thị Xuân Hương Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa đi cai nghiện bắt buộc khi nào? Thời hiệu áp dụng biện pháp ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về trường hợp, thời hiệu và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc, theo Luật Phòng chống ma túy 2025 và Pháp lệnh 03/2026/UBTVQH16.

Bài viết mới nhất