Nhân viên tiếp cận cộng đồng có bị coi là vi phạm pháp luật khi phân phát bao cao su cho người bán dâm không?

Trần Thị Tuyết Vân 166 lượt xem
08:10 | 03/01/2024
Tôi có một câu hỏi như sau: Nhân viên tiếp cận cộng đồng có bị coi là vi phạm pháp luật khi phân phát bao cao su cho người bán dâm không? Tôi mong nhận được câu trả lời sớm. Câu hỏi của chị N.T.P ở Lâm Đồng.
Nội dung chính
  1. Người được cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng là người trên 18 tuổi đúng không?
  2. Trình tự cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được quy định thế nào?
  3. Nhân viên tiếp cận cộng đồng có bị coi là vi phạm pháp luật khi phân phát bao cao su cho người bán dâm không?

Người được cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng là người trên 18 tuổi đúng không?

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 108/2007/NĐ-CP thì nhân viên tiếp cận cộng đồng là những người trực tiếp tham gia thực hiện các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được cấp thẻ theo quy định của pháp luật, bao gồm tuyên truyền viên đồng đẳng và những người tình nguyện khác.

Tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch 03/2010/TTLT-BYT-BCA như sau:

Tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng
1. Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng.
2. Là người không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Theo đó, người được cấp Thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng phải đáp ứng những tiêu chuẩn được quy định tại Điều 1 nêu trên.

Trong đó người này phải là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng.

Nhân viên tiếp cận cộng đồng

Nhân viên tiếp cận cộng đồng (Hình từ Internet)

Trình tự cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được quy định thế nào?

Theo khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch 03/2010/TTLT-BYT-BCA thì trình tự cấp thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng được thực hiện như sau:

(1) Người có nguyện vọng làm nhân viên tiếp cận cộng đồng tự nguyện viết đơn đề nghị cấp Thẻ và nộp cho người đứng đầu chương trình, dự án.

(2) Người đứng đầu chương trình, dự án lập danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng và gửi danh sách này kèm theo đơn tự nguyện làm nhân viên tiếp cận cộng đồng về Công an xã, phường, thị trấn (Công an cấp xã) nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú để đề nghị xác nhận về nhân thân của những người đó.

(3) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp Thẻ và danh sách những người đăng ký làm nhân viên tiếp cận cộng đồng do người đứng đầu chương trình, dự án gửi đến, Công an cấp xã xem xét để xác nhận về nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú cũng như các nội dung quy định tại Điều 1 Thông tư liên tịch này (theo quy định tại Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không xác nhận, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

(4) Sau khi nhận được giấy xác nhận về nhân thân của Công an cấp xã, người đứng đầu chương trình, dự án hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị cấp Thẻ gửi đến Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS.

(5) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS phải ban hành quyết định cấp Thẻ cho những người được tuyển chọn làm nhân viên tiếp cận cộng đồng (theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này). Trường hợp không cấp, phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do đối với từng trường hợp.

Nhân viên tiếp cận cộng đồng có bị coi là vi phạm pháp luật khi phân phát bao cao su cho người bán dâm không?

Quyền của nhân viên tiếp cận cộng đồng được quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 108/2007/NĐ-CP như sau:

Quyền và trách nhiệm của nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
1. Nhân viên tiếp cận cộng đồng khi thực hiện các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV có các quyền sau:
a) Được hưởng các chế độ, phụ cấp từ các chương trình, dự án can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV;
b) Không bị coi là vi phạm pháp luật khi thực hiện việc phân phát bao cao su, bơm kim tiêm sạch, điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho các đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này.
...

Dẫn chiếu Điều 5 Nghị định 108/2007/NĐ-CP quy định về đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV như sau:

Đối tượng áp dụng các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV
Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV được triển khai trong các nhóm đối tượng sau:
1. Người mua dâm, bán dâm;
2. Người nghiện chất dạng thuốc phiện;
3. Người nhiễm HIV;
4. Người có quan hệ tình dục đồng giới;
5. Người thuộc nhóm người di biến động;
6. Người có quan hệ tình dục với các đối tượng quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.

Như vậy, nhân viên tiếp cận cộng đồng không bị coi là vi phạm pháp luật khi phân phát bao cao su cho người bán dâm.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thị Tuyết Vân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thể thao - Y tế Xem thêm

Pháp luật
Bảng tổng sắp huy chương ASIAD 2026

(Chinhphu.vn) - Cập nhật số lượng và bảng xếp hạng huy chương của các đoàn thể thao tại Đại hội thể thao châu Á lần thứ 20 (ASIAD 2026). Ngày 22/9, Đoàn Thể thao Việt Nam đã giành được tấm Huy chương Vàng đầu tiên, xếp thứ 13 trên Bảng xếp hạng.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Vai trò của Business Analyst và Legal Business Analyst trong TVPL Legal AI

BA và Legal BA phải có khả năng trực tiếp tham gia làm ra sản phẩm TVPL AI: nghiên cứu nhu cầu thật, hiểu sâu quy trình pháp chế và công ty luật, chuyển nghiệp vụ thành yêu cầu rõ cho đội AI/lập trình, đồng hành trong quá trình phát triển, trực tiếp test và góp ý cho đến khi sản phẩm thực sự sử dụng được. Đồng thời giới thiệu được sản phẩm này ra thị trường, đến được đúng người có nhu cầu sử dụng.