Mẫu giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh chữa bệnh từ Quỹ Bảo trợ trẻ em theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP mới nhất? Tải về?
Căn cứ theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định mẫu giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ Quỹ Bảo trợ trẻ em là Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP

>> Tải về Mẫu giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ Quỹ Bảo trợ trẻ em

Mẫu giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ Quỹ Bảo trợ trẻ em theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP mới nhất? (Hình từ Internet)
Trình tự, thủ tục tạm ứng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em được thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 7 Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định về trình tự thủ tục tạm ứng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em được thực hiện như sau:
(1) Người đại diện của người chưa thành niên là bị hại lập và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử Giấy đề nghị hỗ trợ theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đang điều trị cho người chưa thành niên là bị hại (sau đây viết gọn là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh).
(2) Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện của người chưa thành niên là bị hại, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xác nhận tình trạng cấp cứu của người chưa thành niên, lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến cơ quan công an đang thụ lý vụ việc.
(3) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị xác nhận, cơ quan công an đang thụ lý vụ việc có trách nhiệm thực hiện việc xác nhận các thông tin về người chưa thành niên là bị hại, người bồi thường, người bồi thường thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP (nếu có) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không xác nhận thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
(4) Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc, nếu người bồi thường không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02B tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú. Trường hợp xác định được thông tin người bồi thường đã chết trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải gửi Giấy đề nghị xác nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã.
(5) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị xác nhận do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gửi đến, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú có trách nhiệm thực hiện việc xác nhận người bồi thường thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP (nếu có) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không xác nhận thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
(6) Sau khi nhận được văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và dự toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cấp cứu gửi Quỹ Bảo trợ trẻ em, cụ thể:
- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc các bộ, cơ quan trung ương gửi 01 bộ Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam;
- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không trực thuộc các bộ, cơ quan trung ương gửi 01 bộ Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh, thành phố nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trên địa bàn; trường hợp tỉnh, thành phố không có Quỹ Bảo trợ trẻ em thì gửi Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam.
(7) Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ Hồ sơ hợp lệ, Quỹ Bảo trợ trẻ em có trách nhiệm xem xét, phê duyệt dự toán và cấp tạm ứng kinh phí cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với các trường hợp người bồi thường thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP (theo xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã). Trường hợp cần phải tạm ứng thêm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục gửi Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh và dự toán kinh phí đề nghị tạm ứng bổ sung đến Quỹ Bảo trợ trẻ em. Tổng số tiền các lần tạm ứng không vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 131/2026/NĐ-CP. Trường hợp không có đủ kinh phí tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Quỹ Bảo trợ trẻ em có thể sử dụng các nguồn hợp pháp khác để tạm ứng chi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không thực hiện được thì phải có văn bản thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và có văn bản báo cáo cơ quan quản lý cấp trên. Cơ quan quản lý cấp trên của Quỹ Bảo trợ trẻ em gửi văn bản đến cơ quan tài chính cùng cấp để xem xét, trình cấp có thẩm quyền cấp kinh phí để Quỹ Bảo trợ trẻ em tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
(8) Đối với trường hợp người bồi thường thuộc đối tượng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP theo xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc, Quỹ Bảo trợ trẻ em có thể huy động các nguồn hợp pháp để tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp Quỹ Bảo trợ trẻ em không huy động được thì có văn bản trả lời cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nêu rõ lý do, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý cấp trên.
(9) Trường hợp trong quá trình làm thủ tục tạm ứng, người bồi thường hoặc người đại diện của người bồi thường thực hiện bồi thường chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có văn bản thông báo cho Quỹ Bảo trợ trẻ em để dừng thủ tục tạm ứng kinh phí.
(10) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và Quỹ Bảo trợ trẻ em được phép khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để kiểm tra, xác minh người bồi thường đã chết.
Điều kiện sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại là gì?
Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại như sau:
(1) Việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Người chưa thành niên là bị hại bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe đang trong tình trạng cấp cứu cần phải cứu chữa tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để ngăn ngừa các hậu quả nghiêm trọng;
- Người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay.
(2) Người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay quy định tại điểm b khoản 1 Điều này là người bồi thường thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hộ nghèo;
- Hộ cận nghèo;
- Đã chết;
- Bỏ trốn hoặc chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];