Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào?

Đặng Trần Trà My 634 lượt xem
16:25 | 08/04/2026
Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào?
Nội dung chính
  1. Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào?
  2. Nguyên tắc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại là gì?
  3. Trình tự thủ tục tạm ứng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP ra sao?

Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào?

Ngày 06/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 131/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết khoản 3 Điều 160 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại

>>> Tải về toàn văn Nghị định 131 2026 NĐ CP

Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 Điều 160 Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ cần phải cứu chữa kịp thời nhưng người bồi thường chưa thể thực hiện bồi thường ngay, bao gồm nguyên tắc, điều kiện, mức kinh phí sử dụng, hồ sơ, trình tự, thủ tục tạm ứng, thanh toán, hoàn trả và quyết toán kinh phí.

Nghị định 131/2026/NĐ-CP áp dụng đối với Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh, thành phố, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam (sau đây gọi chung là Quỹ Bảo trợ trẻ em), người chưa thành niên là bị hại, người bồi thường, người có nghĩa vụ bồi thường, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình có liên quan đến hoạt động tư pháp người chưa thành niên.

Nghị định 131/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 25 tháng 5 năm 2026. Nội dung quy định tại Nghị định 131/2026/NĐ-CP áp dụng từ năm ngân sách 2026.

* Xem thêm chi tiết tại Nghị định 131 2026 NĐ CP

Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào?

Toàn văn Nghị định 131/2026/NĐ-CP về việc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại chi tiết như thế nào? (Hình ảnh từ Internet)

Nguyên tắc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại là gì?

Căn cứ theo Điều 3 Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại như sau:

- Bảo đảm nhanh chóng, dễ tiếp cận, đúng mục đích, đúng đối tượng để người chưa thành niên là bị hại nhận được sự hỗ trợ kịp thời.

- Chỉ sử dụng kinh phí hỗ trợ từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại để chi phí cho khám bệnh, chữa bệnh trong giai đoạn cấp cứu. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện việc cấp cứu bệnh nhân theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh ngay cả khi chưa có tạm ứng từ Quỹ Bảo trợ trẻ em.

- Không kỳ thị, phân biệt đối xử với người chưa thành niên vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo hoặc bất kỳ lý do nào khác.

- Công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.

Trình tự thủ tục tạm ứng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP ra sao?

Căn cứ theo Điều 7 Nghị định 131/2026/NĐ-CP quy định về nguyên tắc sử dụng kinh phí từ Quỹ Bảo trợ trẻ em cho người chưa thành niên là bị hại như sau:

[1] Người đại diện của người chưa thành niên là bị hại lập và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử Giấy đNghị định 131/2026/NĐ-CPNghị định này đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đang điều trị cho người chưa thành niên là bị hại (sau đây viết gọn là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh).

[2] Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị hỗ trợ của người đại diện của người chưa thành niên là bị hại, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xác nhận tình trạng cấp cứu của người chưa thành niên, lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02A tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến cơ quan công an đang thụ lý vụ việc.

[3] Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị xác nhận, cơ quan công an đang thụ lý vụ việc có trách nhiệm thực hiện việc xác nhận các thông tin về người chưa thành niên là bị hại, người bồi thường, người bồi thường thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP (nếu có) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không xác nhận thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

[4] Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc, nếu người bồi thường không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục lập Giấy đề nghị xác nhận theo Mẫu số 02B tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và gửi trực tiếp hoặc qua tổ chức bưu chính hoặc trên môi trường điện tử đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú. Trường hợp xác định được thông tin người bồi thường đã chết trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải gửi Giấy đề nghị xác nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã.

[5] Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được Giấy đề nghị xác nhận do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gửi đến, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú có trách nhiệm thực hiện việc xác nhận người bồi thường thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 4 Nghị định 131/2026/NĐ-CP (nếu có) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không xác nhận thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

[6] Sau khi nhận được văn bản xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bồi thường thường trú, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập Giấy đề nghị tạm ứng chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 131/2026/NĐ-CP và dự toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cấp cứu gửi Quỹ Bảo trợ trẻ em, cụ thể:

- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc các bộ, cơ quan trung ương gửi 01 bộ Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam;

- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không trực thuộc các bộ, cơ quan trung ương gửi 01 bộ Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh, thành phố nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trên địa bàn; trường hợp tỉnh, thành phố không có Quỹ Bảo trợ trẻ em thì gửi Hồ sơ đến Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam.

[7] Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ Hồ sơ hợp lệ, Quỹ Bảo trợ trẻ em có trách nhiệm xem xét, phê duyệt dự toán và cấp tạm ứng kinh phí cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với các trường hợp người bồi thường thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 4 (theo xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã). Trường hợp cần phải tạm ứng thêm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục gửi Giấy đề nghị tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh và dự toán kinh phí đề nghị tạm ứng bổ sung đến Quỹ Bảo trợ trẻ em. Tổng số tiền các lần tạm ứng không vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 131/2026/NĐ-CP. Trường hợp không có đủ kinh phí tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Quỹ Bảo trợ trẻ em có thể sử dụng các nguồn hợp pháp khác để tạm ứng chỉ cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp không thực hiện được thì phải có văn bản thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và có văn bản báo cáo cơ quan quản lý cấp trên. Cơ quan quản lý cấp trên của Quỹ Bảo trợ trẻ em gửi văn bản đến cơ quan tài chính cùng cấp để xem xét, trình cấp có thẩm quyền cấp kinh phí để Quỹ Bảo trợ trẻ em tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[8] Đối với trường hợp người bồi thường thuộc đối tượng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 theo xác nhận của cơ quan công an đang thụ lý vụ việc, Quỹ Bảo trợ trẻ em có thể huy động các nguồn hợp pháp để tạm ứng cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp Quỹ Bảo trợ trẻ em không huy động được thì có văn bản trả lời cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nêu rõ lý do, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý cấp trên.

[9] Trường hợp trong quá trình làm thủ tục tạm ứng, người bồi thường hoặc người đại diện của người bồi thường thực hiện bồi thường chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có văn bản thông báo cho Quỹ Bảo trợ trẻ em để dừng thủ tục tạm ứng kinh phí.

[10] Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và Quỹ Bảo trợ trẻ em được phép khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để kiểm tra, xác minh người bồi thường đã chết.

Logo Thư viện Pháp luật
Đặng Trần Trà My Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Văn hóa - Xã hội Xem thêm

Bài viết mới nhất