Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không?

09:52 | 12/07/2025
Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không? Trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá thì được thực hiện như thế nào? Hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá thì thuộc trường hợp đấu giá không thành không?
Nội dung chính
  1. Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không?
  2. Trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá thì được thực hiện như thế nào?
  3. Hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá thì thuộc trường hợp đấu giá không thành không?

Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không?

Theo Điều 9 Luật Đấu giá tài sản 2016 được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024 như sau:

Các hành vi bị nghiêm cấm
...
2. Nghiêm cấm tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện các hành vi sau đây:
a) Cho tổ chức khác sử dụng tên, Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức mình để hành nghề đấu giá tài sản;
b) Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá; lập hồ sơ khống, hồ sơ giả tham gia hoạt động đấu giá tài sản; thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, hồ sơ mời tham gia đấu giá, hồ sơ tham gia đấu giá, dìm giá, nâng giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;”;
c) Cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá
d) Để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá;
...

Như vậy, lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giá là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.

Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giángười đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không?

Lập danh sách khống về người đăng ký tham gia đấu giángười đăng ký tham gia đấu giá có phải là hành vi bị nghiêm cấm hay không? (hình từ internet)

Trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá thì được thực hiện như thế nào?

Theo Điều 49 Luật Đấu giá tài sản 2016 được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 31 Điều 1 Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024 quy định:

Đấu giá trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá
...
1. Việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá được thực hiện như sau:
a) Trường hợp đấu giá tài sản theo phương thức trả giá lên, khi đã hết thời hạn đăng ký tham gia mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham dự phiên đấu giá hoặc có nhiều người tham dự phiên đấu giá nhưng chỉ có một người trả giá hợp lệ hoặc có nhiều người trả giá nhưng chỉ có một người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó;
b) Trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham dự phiên đấu giá và chấp nhận giá khởi điểm hoặc chấp nhận mức giá sau khi đã giảm thì tài sản được bán cho người đó.
...

Như vậy, việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá được thực hiện như sau:

- Trường hợp đấu giá tài sản theo phương thức trả giá lên, khi đã hết thời hạn đăng ký tham gia mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham dự phiên đấu giá hoặc có nhiều người tham dự phiên đấu giá nhưng chỉ có một người trả giá hợp lệ hoặc có nhiều người trả giá nhưng chỉ có một người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó;

- Trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham dự phiên đấu giá và chấp nhận giá khởi điểm hoặc chấp nhận mức giá sau khi đã giảm thì tài sản được bán cho người đó.

Hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá thì thuộc trường hợp đấu giá không thành không?

Theo Điều 52 Luật Đấu giá tài sản 2016 được sửa đổi bởi điểm q Khoản 45 Điều 1 Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024 và bổ sung bởi điểm a Khoản 33 Điều 1 Luật Đấu giá tài sản sửa đổi 2024 quy định như sau:

Đấu giá không thành
1. Các trường hợp đấu giá không thành bao gồm:
a) Đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá;
a1) Tất cả những người đã đăng ký tham gia đấu giá hợp lệ nhưng không tham dự phiên đấu giá;
b) Tại phiên đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá;
c) Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và phiên đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên;
d) Người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này;
đ) Người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp;
e) Trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này;

Như vậy, đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá thì thuộc trường hợp đấu giá không thành.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Thanh Xuân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Cơ quan Công an có còn thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu của chủ đầu tư không? Trách nhiệm nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy đối với chủ đầu tư thế nào?

Sau khi hoàn thành công trình cơ quan công an có còn thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu của chủ đầu tư không? Trách nhiệm nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy đối với chủ đầu tư thế nào? Có yêu cầu về năng lực, thành phần tham gia nghiệm thu không?