Toàn văn Quy định 08-QĐ/TW về chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam ra sao?
Ngày 2/3/2026, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định 08-QĐ/TW năm 2026 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam.
Tải về Quy định 08-QĐ/TW năm 2026
Theo đó, nêu rõ nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam như sau:
(1) Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
(2) Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể thảo luận, Trưởng Ban kết luận và chỉ đạo thực hiện.
(3) Ban Chỉ đạo hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; không làm thay chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Xem chi tiết thêm tại Quy định 08-QĐ/TW năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 2/3/2026.

Toàn văn Quy định 08-QĐ/TW về chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam ra sao? (Hình từ Internet)
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam có nhiệm vụ gì?
Căn cứ theo Điều 4 Quy định 08-QĐ/TW năm 2026 quy định nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam như sau:
(1) Nghiên cứu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định chủ trương, định hướng về xây dựng, thực hiện pháp luật, cơ chế, chính sách, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam.
(2) Chỉ đạo, đôn đốc; phối hợp với các cấp uỷ, tổ chức đảng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về phát triển văn hoá Việt Nam; rà soát cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực văn hoá để kiến nghị và yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xem xét, thực hiện.
(3) Chỉ đạo, điều phối chiến lược, liên kết nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 và bảo đảm thống nhất, phát huy nguồn lực với các nghị quyết khác.
(4) Chỉ đạo các cấp uỷ và tổ chức đảng trực thuộc Trung ương kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có hành vi trì hoãn, cản trở hoặc không thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam; không thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác phát triển văn hoá Việt Nam.
(5) Chỉ đạo định hướng thông tin, tuyên truyền về chủ trương, định hướng, giải pháp về phát triển văn hoá Việt Nam. Chỉ đạo xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phát triển văn hoá Việt Nam làm phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.
(6) Tổ chức sơ kết, tổng kết và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả về phát triển văn hoá Việt Nam và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.
Quan điểm chỉ đạo về phát triển văn hóa Việt Nam theo Nghị quyết 80 như thế nào?
Căn cứ theo Mục I Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 nêu rõ quan điểm chỉ đạo về phát triển văn hóa Việt Nam theo Nghị quyết 80 như sau:
(1) Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
(2) Phát triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
(3) Phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sự nghiệp phát triển văn hoá vừa có nghĩa chiến lược, lâu dài, đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách, cần được tiến hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan.
(4) Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hoá, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hoá.
(5) Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hoá, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; nhận thức và xử lý hài hoà, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hoá: Giữa "xây" và "chống"; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];