|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
80-NQ/TW
|
|
Loại văn bản:
|
Nghị quyết
|
|
Nơi ban hành:
|
Ban Chấp hành Trung ương
|
|
Người ký:
|
Tô Lâm
|
|
Ngày ban hành:
|
07/01/2026
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Số công báo:
|
Đang cập nhật
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương
Ngày 7/1/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có nội dung thống nhất chọn ngày 24/11 hàng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam.Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương
Theo đó, Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng ta trong việc đưa văn hóa thật sự trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Trong đó, Bộ Chính trị thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là "Ngày Văn hoá Việt Nam", với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá, đội ngũ văn nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hoá, văn minh.
Ngoài ra, Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại, cụ thể:
- Bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hoá, tiếp cận bình đẳng văn hoá; phát triển dịch vụ văn hoá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Nhân dân
- Xây dựng và vận hành Nền tảng văn hoá số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân.
- Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hoá đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số.
- Triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hoá (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị quốc gia (hoà bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh), chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Xem chi tiết nội dung tại Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026.
|
BAN
CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số
80-NQ/TW
|
Hà
Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM
-----
Văn hoá Việt
Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn
năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ,
tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mỗi
thời kỳ đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự phát triển rực rỡ về
văn hoá. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát triển
văn hoá và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền
thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới. Trong thời kỳ
đổi mới đất nước, tư duy và nhận thức về vai trò của văn hoá tiếp tục có những
bước phát triển mới. Thể chế, chính sách được quan tâm, từng bước hoàn thiện.
Nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hoá được tăng cường. Công nghiệp văn hoá
đang trên đà phát triển. Các giá trị văn hoá thấm sâu vào mọi mặt của đời sống
xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc. Hội nhập quốc tế về văn hoá ngày càng được mở rộng, góp phần nâng
cao tiềm lực, vị thế, uy tín, sức mạnh mềm của quốc gia.
Tuy nhiên, sự
nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam vẫn còn hạn chế, bất
cập và gặp không ít khó khăn, thách thức. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn
hoá chưa toàn diện và sâu sắc. Việc thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng
thành chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột
phá. Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống
cấp, mất bản sắc. Đầu tư cho văn hoá còn thấp và dàn trải; nguồn lực chủ yếu dựa
vào ngân sách nhà nước. Nguồn nhân lực văn hoá tồn tại nhiều bất cập. Cơ chế,
chính sách chưa phát huy đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội
ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hoá của người dân
còn chênh lệch giữa các vùng, miền, địa phương. Một số di sản văn hoá vật thể,
phi vật thể xuống cấp, mai một chưa được khắc phục triệt để. Công nghiệp văn
hoá, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Sự bùng nổ
các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại
lai phản cảm, phi văn hoá gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc
gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và xây dựng
con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới.
Thế giới
đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp
chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hoá, trong đó có cạnh
tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hoá. Các thách thức an ninh truyền
thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công
nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt
ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới. Yêu cầu
phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết
sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập; chủ
động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức thúc đẩy phát triển văn hoá. Văn hoá
phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị
nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội. Xây dựng và phát triển văn hoá phải thực sự
trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho
phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng
và 100 năm thành lập Nước; khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hoá Việt Nam xứng
tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống
văn hoá, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.
Từ tình hình
trên, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ,
hiệu quả các nội dung sau:
I- QUAN
ĐIỂM CHỈ ĐẠO
1. Phát
triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực
to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các
giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống
xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối
ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
2. Phát
triển văn hoá vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ
nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hoá. Tạo lập môi trường văn
hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Phát triển toàn diện văn hoá, con
người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị
gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát huy truyền thống yêu nước, bản
lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức
sáng tạo và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của Nhân
dân và sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3. Phát
triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ
văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong,
gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sự nghiệp phát triển văn hoá vừa có
nghĩa chiến lược, lâu dài, đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách, cần được tiến
hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều
kiện thực tế khách quan.
4. Đầu
tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của
dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát
triển văn hoá, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội,
khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt, nhất là
cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho
văn hoá, thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển
văn hoá.
5. Phát
huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hoá, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới;
nhận thức và xử lý hài hoà, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hoá: Giữa
"xây" và "chống"; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc
tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số;
dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số.
II- MỤC
TIÊU
1. Đến
năm 2030
1.1. Mục
tiêu chung
Đẩy mạnh xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống
nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại.
Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và
không gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hoá dân
tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới. Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn
tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể,
nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp. Đẩy mạnh phát
triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công
nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn
hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa
trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp
dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới.
1.2. Một
số chỉ tiêu
- Hoàn thiện
hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp,
lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng
văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở
hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
- Phấn đấu
hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp
quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
- 100% học
sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham
gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá.
- Bảo đảm
nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân
sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.
- Ban hành
cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi
ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn
hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ
thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ
trương xã hội hoá văn hoá đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng
"thương mại hoá", chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế
trong hoạt động văn hoá, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn.
- Phát triển
các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu
quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh,
nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...
- Xây dựng
thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh,
âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước
ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản
văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh.
2. Tầm
nhìn đến năm 2045
Xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung
tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hoá giữ vai
trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Khẳng định vị thế văn hoá của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng
xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ
thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp
văn hoá - sáng tạo năng động, với một số chỉ tiêu chính như sau:
- Công nghiệp
văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn
đấu đóng góp 9% GDP.
- Có 10
thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm
khoảng 8 - 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh.
- Phấn đấu nằm
trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power
Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.
III- NHIỆM
VỤ, GIẢI PHÁP
1. Đổi mới
mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn
hoá trong kỷ nguyên mới
- Các cấp uỷ,
tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc
và toàn diện về vai trò nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng của văn hoá
trong phát triển đất nước. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp
uỷ, lãnh đạo quản lý các cấp trong thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hoá.
- Quán triệt
quan điểm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với
xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số.
Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi trọng yếu tố văn hoá trong hoạch định chính
sách phát triển, tạo điều kiện thuận lợi, huy động nguồn lực xã hội cho phát
triển văn hoá. Văn hoá phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án
với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, bảo đảm đồng bộ, tương hỗ với các chính
sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và
chuyển đổi số. Đề cao vai trò con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động
lực quan trọng nhất của sự phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, giáo dục về văn hoá thường xuyên, liên tục, hiệu quả,
trong đó báo chí, xuất bản đóng vai trò nòng cốt. Đa dạng hoá các phương thức
truyền thông, chú trọng các hình thức truyền thông hiện đại, đặc biệt là truyền
thông số. Tạo dựng và định hướng môi trường văn hoá, thông tin, thị hiếu lành mạnh;
đẩy mạnh giáo dục các hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con
người Việt Nam; phát hiện và nhân rộng các gương người tốt, việc tốt. Chủ động
quảng bá văn hoá dân tộc ra thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá
nhân loại. Phát huy vai trò, sứ mệnh của văn nghệ sĩ, trí thức, người làm công
tác văn hoá, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín, có tầm ảnh hưởng,
chức sắc tôn giáo như một lực lượng nòng cốt, cùng với toàn thể Nhân dân chung
tay sáng tạo và lan toả giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
2. Hoàn
thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá
- Thể chế
hoá đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của
Đảng về văn hoá. Tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học,
bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn
lực cho phát triển văn hoá. Sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản quy phạm
pháp luật còn bất cập, chồng chéo; tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế,
đồng thời bổ sung khung pháp lý giải quyết những vấn đề mới phát sinh từ thực
tiễn. Bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hoá với
pháp luật liên quan; giữa chính sách văn hoá với các chính sách về giáo dục -
đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tư nhân.
Hoàn thiện thể chế, chính sách hội nhập quốc tế về văn hoá phù hợp với thông lệ
và cam kết quốc tế.
- Xây dựng,
ban hành và tổ chức thực hiện Bộ chỉ số văn hoá quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về
đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá đối với phát triển kinh tế theo chuẩn
mực quốc tế.
- Xây dựng
cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá; phát triển các mô hình kinh tế văn hoá mới,
các dự án trọng điểm, quy mô lớn về văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo. Hỗ
trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến
vào sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ trên môi trường số; chính sách thu hút đầu tư từ các tập đoàn
công nghệ lớn vào hạ tầng số và phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn
hoá; ưu tiên đầu tư phát triển các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện. Thí
điểm các mô hình kinh doanh văn hoá mới gắn với nền tảng số; khuyến khích khu vực
tư nhân đầu tư các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hoá, đặc biệt là ở các vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có chính sách ưu
đãi vượt trội về đất đai, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, ưu tiên công nghiệp văn
hoá, công nghiệp giải trí.
- Có chính
sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển
khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư -
sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao; khuyến khích mô hình bảo
trợ văn hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng góp tự nguyện, phi lợi nhuận; phát huy
vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của tổ chức, cá nhân trong hệ sinh thái
văn hoá. Xây dựng Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình công tư. Xây dựng cơ chế
đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng
văn hoá, nghệ thuật, thể thao; chú trọng các môn nghệ thuật truyền thống, đồng
thời thúc đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại; bảo đảm điều kiện giảng dạy,
sáng tạo đặc thù và chăm sóc sức khoẻ chuyên biệt. Có chính sách hỗ trợ sáng tạo
văn hoá trong không gian số, môi trường số, xã hội số, kinh tế số.
- Có chính
sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân (dân gian), nghệ sĩ; tạo điều kiện thúc đẩy,
hỗ trợ văn nghệ sĩ tham gia, đạt giải thưởng lớn tại các cuộc thi, triển lãm uy
tín, danh giá về nghệ thuật của thế giới. Có cơ chế hiệu quả để đưa các tác phẩm
nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hoá của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật
quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước. Có cơ chế đặt
hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật
có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt
Nam trong kỷ nguyên mới.
- Cho thực
hiện thí điểm đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay để tạo đột phá
cho văn hoá phát triển, nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định
khác.
3. Chú trọng
xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hoá
nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại
- Lấy xây dựng
nhân cách con người làm trọng tâm để định hướng hoạt động văn hoá, giáo dục,
khoa học vào mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể
- mỹ; giúp con người nâng cao trí tuệ, tự hoàn thiện nhân cách, hình thành thế
giới quan khoa học, hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ. Đặt giáo dục đạo đức
và văn hoá lên hàng đầu trong các cơ sở giáo dục từ bậc mầm non; tăng cường sự
phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc hình thành và
hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Phát
huy giá trị văn hoá "Bộ đội Cụ Hồ", 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân
dân, mẫu hình "công bộc của dân", văn hoá nêu gương của cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức gắn với xây dựng văn hoá trong Đảng và hệ thống
chính trị. Xây dựng đội ngũ doanh nhân với chuẩn mực đạo đức và văn hoá kinh doanh
mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá kinh doanh quốc tế.
- Triển khai
đồng bộ hệ giá trị văn hoá (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học), hệ giá trị
quốc gia (hoà bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, hạnh phúc), hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn
minh), chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình,
trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị
truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng
phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ
nguyên mới.
- Định hình
môi trường văn hoá trong không gian phát triển của từng vùng, từng địa phương;
phát huy không gian văn hoá đô thị, nông thôn, văn hoá biển và miền núi. Xây dựng
môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; nêu cao văn hoá thượng
tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường, đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
trên nền tảng đạo đức, luật pháp, chuẩn mực xã hội và giá trị truyền thống,
tinh thần đoàn kết, sẻ chia, tương thân, tương ái, trách nhiệm xã hội. Xây dựng
môi trường thông tin số lành mạnh, nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm công
dân trong không gian số; ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số; làm
trong sạch môi trường văn hoá số.
- Phát triển
văn hoá cơ sở phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp; xây dựng cộng đồng văn
hoá cơ sở giàu bản sắc, sáng - xanh - sạch - đẹp; lấy khu dân cư là hạt nhân của
môi trường văn hoá, người dân làm chủ thể và trung tâm. Gắn kết xây dựng văn
hoá với tôn trọng, bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy tính tự quản của cộng
đồng, truyền thống gia đình, dòng họ; phát huy hương ước, quy ước của cộng đồng
dân cư; bảo đảm đầy đủ và phát huy có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hoá, thể
thao. Phát huy nhân tố tích cực của văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng. Bảo tồn lễ hội
truyền thống và định hướng phát triển các lễ hội mới nhằm phát huy bản sắc văn
hoá, gắn với du lịch và phát triển kinh tế.
- Xây dựng
thế trận văn hoá gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng
của Đảng. Chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo
đức, lối sống, các biểu hiện thực dụng, "lợi ích nhóm" trong hoạt động
văn hoá. Kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hoá, tin giả trên mạng xã
hội và phương tiện thông tin khác. Phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong
việc hình thành bản lĩnh, "sức đề kháng" trước các tác động phức tạp
và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự
hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước.
- Bảo đảm đầy
đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hoá, tiếp cận bình đẳng văn hoá; phát triển
dịch vụ văn hoá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Nhân dân. Xây dựng và vận hành Nền
tảng văn hoá số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ
thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật
trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hoá giữa các vùng, miền, tầng
lớp nhân dân. Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hoá đối với các
nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu
số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá tốt
đẹp của các dân tộc thiểu số. Thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là "Ngày
Văn hoá Việt Nam", với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng
nguyên lương, để Nhân dân được nâng cao khả năng thụ hưởng văn hoá, đội ngũ văn
nghệ sĩ được động viên sáng tạo, toàn xã hội đề cao, thực hành lối sống văn hoá,
văn minh.
4. Đổi mới
phương thức quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho
phát triển văn hoá
- Triển khai
phương thức quản trị văn hoá hiện đại lấy hiệu quả và sự tham gia đa trung tâm
(Nhà nước - thị trường - xã hội - cộng đồng sáng tạo) làm nguyên tắc cốt lõi; lấy
minh bạch, trách nhiệm giải trình làm nền tảng; lấy sự sáng tạo, kết quả đổi mới
thể chế, số hoá quy trình làm thước đo. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với
xây dựng và minh bạch hoá các quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tổ
chức thực hiện; ứng dụng công nghệ số trong giám sát, định hướng nội dung văn
hoá trực tuyến; ban hành tiêu chuẩn đối với sản phẩm và môi trường văn hoá số;
phát triển dịch vụ văn hoá số gắn với cơ chế quản lý phù hợp, hiệu quả. Hoàn
thiện hệ thống tiêu chuẩn dùng chung, bản đồ số văn hoá, phát triển nền tảng
phân phối nội dung số, công cụ bảo vệ bản quyền, ứng dụng phân tích dữ liệu,
công nghệ số trong một số lĩnh vực của văn hoá.
- Tổ chức bộ
máy quản trị văn hoá tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chuyển từ quản lý sang quản
trị, phân cấp, phân quyền rõ ràng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng
đơn giản, thuận tiện, minh bạch; nâng cao năng lực tự chủ của các đơn vị sự
nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực văn
hoá. Tôn trọng sự tồn tại và phát triển các dòng văn hoá lành mạnh; tạo điều kiện
thuận lợi để phát triển dòng văn hoá đại chúng gắn với nguyên tắc "dân tộc
hoá", "khoa học hoá", tăng cường vai trò chủ lưu của dòng văn
hoá bác học.
- Chủ động
thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi
số trong phát triển văn hoá. Xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn
hoá quốc gia, nền tảng số dùng chung bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ
liệu quốc gia; phát triển nội dung số, hạ tầng văn hoá số Việt Nam. Chuẩn hoá
và số hoá toàn diện di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao; quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn
hoá số. Phát triển hạ tầng số, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu
lớn (Big Data), công nghệ thực tế ảo (Blockchain)… trong sản xuất, phân phối,
tiêu dùng văn hoá và quản lý văn hoá. Xây dựng thiết chế "văn hoá số",
"bảo tàng mở", "nhà hát di động", "thư viện số"
thân thiện với mọi lứa tuổi.
- Chú trọng
công tác truyền thông chính sách. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động và
quản lý hệ thống truyền thông đại chúng, các phương tiện truyền thông mới; phát
triển các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số; bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ, thương hiệu sáng tạo, an ninh văn hoá trên mạng và chủ quyền văn hoá số.
5. Xây dựng
hệ sinh thái văn hoá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động
lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp
tài nguyên văn hoá
- Xây dựng,
phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức
mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Doanh nghiệp, đặc biệt là
doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo và giải
trí là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hoá. Người dân vừa là
chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hoá, đồng thời thụ hưởng trực
tiếp giá trị và thành quả của văn hoá, tạo điều kiện hình thành tầng lớp công
chúng văn hoá hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo.
- Hình thành
các không gian sáng tạo nội dung số, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các
doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hoá thông qua
các hoạt động kết nối và trao đổi. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm,
dịch vụ văn hoá số; gắn kết văn hoá với du lịch, thương mại và công nghệ, hình
thành chuỗi giá trị. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hoá - sáng tạo
nội dung số. Định hướng xây dựng thị trường sản phẩm sáng tạo liên khu vực,
hình thành các "trung tâm sáng tạo vùng" gắn với đô thị lớn, khu du lịch
trọng điểm và cộng đồng sáng tạo nhằm góp phần nâng cao khả năng kết nối chuỗi
giá trị sáng tạo trong nước và quốc tế.
- Nhận diện
đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung
tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy,
phát triển bền vững các giá trị văn hoá. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân
tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn
hoá. Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hoá lồng ghép vào mục
tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hoá, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế
cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần
hoàn thiện hệ sinh thái văn hoá.
- Trọng dụng,
tôn vinh, giải phóng sức sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để các chuyên gia,
trí thức, văn nghệ sĩ tài năng và học sinh, sinh viên có năng khiếu vượt trội
trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật được bồi dưỡng, rèn luyện, sáng tạo, cống hiến,
phát triển.
6. Thúc đẩy
phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, thị trường văn hoá, định vị sản phẩm
văn hoá thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hoá
- Tập trung
phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực công nghiệp văn hoá (điện ảnh,
âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hoá, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống,
trò chơi điện tử, ẩm thực và phần mềm/nội dung số). Triển khai nghiên cứu, xây
dựng thí điểm các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong toàn bộ chuỗi giá trị của
các ngành công nghiệp văn hoá từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ và
bảo vệ bản quyền.
- Xây dựng hạ
tầng và kiến tạo thị trường trọng điểm cho các ngành công nghiệp văn hoá có lợi
thế cạnh tranh; hình thành các cụm, khu và tổ hợp văn hoá - sáng tạo; phát triển
tập đoàn văn hoá - sáng tạo tầm cỡ quốc gia và quốc tế; xây dựng và vận hành
sàn giao dịch sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, đặc biệt dưới dạng tài sản số.
- Củng cố
thương hiệu địa phương bằng việc phát triển những sản phẩm, dịch vụ văn hoá độc
đáo, giàu bản sắc; từng bước hình thành thương hiệu quốc gia. Định vị và quảng
bá thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế mang đậm bản sắc văn hoá, con người
Việt Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hoá, xuất bản phẩm truyền
thông và đa phương tiện… Phát triển các thương hiệu văn hoá chất lượng cao, có
sức cạnh tranh, đóng góp vào kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đưa
Việt Nam trở thành quốc gia có thương hiệu văn hoá mạnh trong chuỗi giá trị và
cung ứng toàn cầu.
- Cấu trúc lại,
nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Phát triển sản phẩm
du lịch mang bản sắc văn hoá, giàu trải nghiệm; thúc đẩy du lịch thông minh,
xanh, sạch, giảm phát thải; kết nối liên vùng, liên ngành; nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực. Xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia về du lịch, dịch vụ
mang đậm bản sắc văn hoá, con người Việt Nam, thương hiệu điểm đến Việt Nam gắn
với giá trị văn hoá.
7. Huy động
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực văn hoá đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới
- Tiến hành nghiên
cứu và định giá tổng giá trị kinh tế (TEV), phát triển thương hiệu điểm đến Việt
Nam trên toàn cầu, biến di sản thành tài sản, hình thành mô hình "di sản dẫn
dắt phát triển kinh tế" tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản;
phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường theo quan điểm bảo tồn di sản
và phát triển bền vững của UNESCO.
- Thực hiện
hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025 -
2035; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đầu tư nhà nước trong lĩnh vực văn
hoá, bảo đảm bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án đã được phê duyệt.
Tăng đầu tư công cho văn hoá theo hướng trọng tâm, trọng điểm và thu hút đầu tư
xã hội; ưu tiên lĩnh vực văn hoá cơ sở, di sản văn hoá, đổi mới sáng tạo, đào tạo,
công nghiệp văn hoá, nhất là công nghệ số trong phát triển công nghiệp văn hoá.
Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hoá, ưu tiên các thiết chế văn hoá quy
mô quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế, như: Bảo tàng quốc gia, nhà hát quốc
gia, trung tâm nghệ thuật quốc gia...; xây dựng, hoàn thiện, bảo đảm vận hành,
khai thác đồng bộ có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở, tạo hệ
thống dịch vụ văn hoá công hiện đại, phù hợp đặc thù vùng, miền, dân tộc.
- Xây dựng
chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao,
cán bộ cấp chiến lược, phát triển nguồn nhân lực văn hoá; chú trọng công tác
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những
người làm công tác văn hoá, nghệ thuật ở địa phương. Xây dựng và phát triển mạng
lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hoá.
- Đổi mới
giáo dục nghệ thuật trong các cơ sở giáo dục, giúp học sinh phát triển năng khiếu,
chuẩn bị nguồn nhân lực sớm và định hướng thị hiếu thẩm mỹ. Chú trọng xây dựng
và phát triển các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo văn hoá theo mô hình tiên tiến,
hiện đại. Phát triển chương trình đào tạo đặc thù về văn hoá, nghệ thuật, công
nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hoá; cho phép đào tạo tích hợp phổ
thông - nghệ thuật - công nghệ để hình thành đội ngũ nhân lực văn hoá - nghệ
thuật - công nghệ chất lượng cao. Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo; tiếp tục
gửi sinh viên, giảng viên, cán bộ đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn về văn hoá, nghệ
thuật ở các nước phát triển. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hoá, nhất là nguồn nhân lực chuyên
sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong văn hoá và đội
ngũ sáng tạo nội dung số.
- Đẩy mạnh
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về xây dựng và phát triển văn hoá; chủ động
dự báo xu hướng thế giới; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác tham mưu,
tư vấn xây dựng chiến lược, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hoá Việt Nam trong kỷ
nguyên mới. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xây dựng các chương
trình nghiên cứu khoa học trọng điểm về văn hoá - văn minh Việt Nam, làm cơ sở
cho công tác nghiên cứu, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân và đời sống
xã hội.
8. Chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá, phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia
- Phát huy
vai trò quan trọng của văn hoá trong các hoạt động đối ngoại các cấp, góp phần
xây dựng thương hiệu quốc gia, nâng cao vị thế của đất nước. Phát huy giá trị
văn hoá độc đáo, bản sắc dân tộc và năng lực sáng tạo của người Việt Nam; chủ động
thích ứng với cạnh tranh ảnh hưởng trong khu vực và trên thế giới. Đưa văn hoá,
nghệ thuật trở thành nội dung của chương trình chính thức trong khuôn khổ các
chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Việt Nam ở nước
ngoài và lãnh đạo cấp cao nước ngoài đến Việt Nam.
- Xây dựng kế
hoạch đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về văn hoá của Việt Nam.
Tăng cường đàm phán, ký kết các điều ước, thoả thuận quốc tế về văn hoá;
nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế, đặc biệt là các công ước về văn
hoá và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong lĩnh vực quyền tác giả,
sở hữu trí tuệ. Đưa nội dung văn hoá vào các hiệp định, thoả thuận hợp tác kinh
tế, thương mại song phương và đa phương để tạo hành lang pháp lý thuận lợi, giảm
rào cản và mở rộng thị trường cho sản phẩm văn hoá Việt Nam xuất khẩu, góp phần
gia tăng sức mạnh mềm của quốc gia.
- Thành lập
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm văn hoá Việt Nam ở nước ngoài
tại các quốc gia là đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác
toàn diện của Việt Nam; triển khai tham tán, tuỳ viên văn hoá; phát triển đội
ngũ cán bộ văn hoá tại các tổ chức quốc tế và khu vực. Phát huy vai trò cơ quan
đại diện ngoại giao và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quảng bá nền
văn hoá dân tộc. Xây dựng và lan toả cuộc vận động "Tự hào là người Việt
Nam"; mở rộng giảng dạy tiếng Việt, tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước
ngoài, các tổ chức và cộng đồng quốc tế giới thiệu đất nước, con người, văn hoá
Việt Nam; hỗ trợ nhân rộng mô hình khu phố Việt Nam, làng Việt Nam, các mô hình
câu lạc bộ văn hoá, võ thuật, học tiếng Việt… tại các quốc gia có đông cộng đồng
người Việt Nam sinh sống và làm việc, hình thành chuỗi các nhà hàng ẩm thực Việt
Nam ở nước ngoài.
- Đẩy mạnh
đăng cai các sự kiện văn hoá, nghệ thuật quốc tế, tham gia sâu tại các diễn đàn
lớn. Triển khai cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa truyền thông, ngoại giao văn hoá
và xuất khẩu sản phẩm - dịch vụ công nghiệp văn hoá, xây dựng thương hiệu quốc
gia cho sản phẩm và dịch vụ văn hoá - sáng tạo mang bản sắc Việt Nam; xuất khẩu
sản phẩm - dịch vụ văn hoá có sức cạnh tranh toàn cầu (điện ảnh, âm nhạc, mỹ
thuật, du lịch văn hoá, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi
điện tử, ẩm thực và phần mềm/nội dung số). Xây dựng và định hình thương hiệu,
hàng hoá, sản phẩm Việt Nam mang giá trị văn hoá đặc sắc (như bền, đẹp, xanh,
nhân văn…). Phát huy giá trị di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh để
quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng
hợp quốc gia.
- Xây dựng
Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, lấy văn hoá
làm nền tảng, trụ cột, lan toả hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam là một quốc
gia giàu bản sắc văn hoá, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng
chảy văn minh của nhân loại. Triển khai các chiến dịch truyền thông đa phương
tiện toàn diện, đa nền tảng, đa ngôn ngữ, sử dụng hiệu quả truyền hình, báo
chí, mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến; ưu tiên tổ chức tại các quốc gia
là đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, địa bàn đông người Việt
Nam ở nước ngoài sinh sống, đồng bộ với các thị trường quan trọng của thương mại,
du lịch Việt Nam. Hợp tác với những người có ảnh hưởng và nhà sáng tạo nội dung
toàn cầu để tiếp cận đối tượng khán giả trong khu vực và trên thế giới, phát
triển mạng lưới "đại sứ văn hoá". Hỗ trợ/tài trợ công tác dịch thuật
và xuất bản sách văn học, văn hoá nghệ thuật Việt Nam ra nước ngoài bằng nhiều
ngôn ngữ và tạo điều kiện thuận lợi để giới thiệu các xuất bản phẩm tiếng nước
ngoài tại Việt Nam. Triển khai các giải pháp hiệu quả chống lại sự xâm nhập của
các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hoá, nhất là trên các nền tảng trực tuyến
xuyên biên giới.
IV- TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Thành
lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam do đồng chí Thường trực
Ban Bí thư làm Trưởng Ban; thành phần gồm lãnh đạo các cơ quan liên quan để chỉ
đạo, giám sát thường xuyên, tổ chức thực hiện toàn diện, có hiệu quả các nội
dung của Nghị quyết.
2. Đảng
uỷ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển văn
hoá Việt Nam; tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định.
3. Đảng
uỷ Chính phủ: (1) Phối hợp với Đảng uỷ Quốc hội kịp thời thể chế hoá đầy đủ các
chủ trương, chính sách nêu tại Nghị quyết này và bố trí đủ nguồn lực để triển
khai thực hiện, ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam
trong Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI với các cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể,
khả thi, hiệu quả. (2) Chỉ đạo xây dựng trình Quốc hội ban hành cơ chế, chính
sách, giải pháp chưa được nêu cụ thể tại phần III trên đây để thực hiện hiệu quả
các quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết này; xây dựng Chương trình hành động triển
khai thực hiện Nghị quyết. (3) Chỉ đạo Đảng uỷ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
chuẩn bị tài liệu; phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tham mưu tổ
chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết.
4. Đảng
uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình,
kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết; phát huy vai trò
giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế,
chính sách về phát triển văn hoá Việt Nam.
5. Ban
Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng uỷ Bộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch, các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức
quán triệt, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến sâu rộng nội dung Nghị quyết thống
nhất trong toàn hệ thống chính trị.
6. Các
tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc
Nghị quyết; bảo đảm đầy đủ nguồn lực cho phát triển văn hoá, tăng cường kiểm
tra, giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết tại địa phương.
7. Đảng
uỷ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban
Chính sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, đánh giá
kết quả thực hiện Nghị quyết; thiết lập cơ chế theo dõi, giám sát, kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện Nghị quyết theo hướng quản lý kết quả có các bộ chỉ số
gắn với từng mục tiêu, lộ trình đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, báo cáo
Bộ Chính trị để chỉ đạo.
Nghị quyết
này phổ biến đến chi bộ.
|
Nơi nhận:
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ,
- Các ban đảng, cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương,
- Các đồng chí Uỷ viên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M
BỘ CHÍNH TRỊ
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|
Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 về phát triển văn hoá Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành
|
CENTRAL
COMMITTEE OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
*
|
THE
COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
----------------
|
|
No.
80-NQ/TW
|
Hanoi,
January 07, 2026
|
RESOLUTION OF THE POLITBURO
ON DEVELOPMENT OF VIETNAMESE CULTURE
----- Vietnamese culture is the product of
good and fine value of the Vietnamese people throughout thousands of years of
developing and defending the country; is an important internal force in forging
intelligence, spirit, bravery, and independence of Vietnamese people. As
history shows, each period of surge in national development is associated with
extensive cultural development. In the process of coordinating the resistance,
the Communist Party prioritizes development of Vietnamese culture and people,
continuation and development of traditional cultural, and selective
acknowledgement of worldwide cultural essences. During period of national
renovation, reasoning and awareness of the role of culture continues with new
development. Institutions and policies are focused on and gradually improved. Investment
resources for cultural development are strengthened. Culture industry is on the
rise. Cultural value permeates every aspect of social life, evokes patriotism,
reinforces belief and unification of the general public. International
integration in culture gradually expands, improves potentials, position,
reliability, and soft power of Vietnam. However, Vietnamese cultural and
people development and improvement are limited, restricted, and met with
various difficulties and challenges. Awareness pertaining to the position and
role of culture is not exhaustive or thorough. Institutionalization of
principles and ideas of the Communist Party into regulations and law by the
Government is not sufficiently fast nor uniform and lacks breakthrough in
certain aspects. Culture environment is not entirely healthy; social moral
remains deteriorated and uncharacteristic. Investment in culture is low and
scattered and relies mostly on state budget. Human resources specializing in
culture are plagued with difficulties. Regulations and policies have not
extensively utilized creativity of actors, especially the intellectuals and
artists. Level of access to and enjoyment of culture of the general public are
not equal across regions, zones, administrative divisions. Deteriorated
tangible and intangible cultural heritages have not been adequately rectified.
Development of culture industry and recreation industry has not matched the
potentials. The surge of cross-border online platforms introduces infiltration
of offensive, uncultured foreign elements that contradict value and negatively
affect the protection and utilization of historical value, cultural tradition
of and development Vietnamese people in new era. The world is undergoing the process
of establishing new order with rapid, complicated, and unprecedented
development, notable conflicts between cultures, in both value and affect of
culture industry. Traditional and non-traditional security challenges and
impact of science, technology revolution fundamentally change behavior
standards and cultural value and demand determination of Vietnam’s position in
the new world order. National development in new era calls for strategic,
uniform principles and policies in order to rectify limitations, difficulties;
actively seize opportunities and overcome challenges to promote cultural
development. Cultural must precede, permeate development policies, emphasize
humanitarian value and social moral standards. Cultural development and
improvement must become a firm platform, internal drive of the population,
regulator of rapid and sustainable national development and aim towards 100
years anniversary of foundation of the Communist Party and 100 years
anniversary of foundation of the country; affirm position and scale of
Vietnamese culture matching that of a country in socialist-oriented market
economy with long standing culture and literary tradition and worthy
contribution to human civilization. As such, the Politburo hereby
requests extensive, uniform, and effective implementation of: I- DIRECTING
PRINCIPLES 1. Cultural and human
development is the important basis, an internal resource, major drive, major
support, and regulator of rapid and sustainable national development. Cultural
values must be firmly, harmoniously, and deeply intertwined with social life in
terms of politic, economy, society, environment, national defense, security,
foreign affairs and become soft power in new era. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 3. Cultural development is
work of the entire general public under leadership of the Communist Party,
management of the Government where the people create and benefit, teams of
intellectuals, artists, cultural cadres, and businesspersons play important
roles and emphasizes pioneering and exemplary characteristics of cadres and
party members. Cultural development plays both a strategic, long-term meaning
and urgent, active, creative, persistent, regular demand depending on practical
situations. 4. Investment in culture is
an investment in sustainable development of Vietnam and future of the general
public. Fundamentally renovate, improve reasoning pertaining to mobilization of
resources for cultural development where government resources play the leading
role, social and private sector resources are important factors; institutions
play key role, especially breakthrough regulations and policies on mobilizing
and effectively using resources for investment in culture, attraction and
treatment of talents. Develop science, technology, innovation, start-up,
digital transformation in order to create new space and drive for cultural
development. 5. Extensively utilize value
and strength of Vietnamese culture and value in the new era; recognize and
harmoniously, effectively resolve internal relationship of culture: Between
“develop” and “counter”; tradition and modern; national and international;
preservation and development; the general public and the elite; real life and
digital space; open data and security, sovereignty of digital culture. II- OBJECTIVES
1. Until 2030 1.1. General objectives Promote development of Vietnamese
culture in a manner that is advanced and full of traditional characteristics;
unified and diverse; unique to the people, democratic, humane, scientific, and
modern. Develop healthy culture environment in families, schools, society, and
digital spaces. Develop literary and arts to match cultural history and
country’s potentials in the new era. Finalize improvement and maintenance of
special national heritages; restore, preserve intangible cultural heritages and
traditional art forms that are at risk of disappearance and requiring immediate
protection. Promote development of culture industries; establish start-up
ecosystem for culture industries and creative arts. Develop culture industry
groups, innovation industrial parks and industrial complex, cultural innovation
complex of international scale on the basis of advanced technology and
innovation business models. Actively and positively engage in international
integration in culture; develop Vietnam into an attractive destination for
regional and worldwide cultural and arts events. 1.2. Criteria - Finalize national cultural
institutionalization system, ensure 100% of two-level local governments, ensure
that armed forces with cultural institutions satisfy demands for cultural
creativity and enjoyment of the general public and cadres, officers, 90% of
cultural institutions operate frequently and effectively. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - 100% of students, learners in
national education system have access, effective and frequent participation in
arts and cultural heritage education activities. - Ensure adequate resources for
cultural development; allocate at least 2% of annual state budget expenditure
for culture and more depending on practical demands. - Promulgate financial regulations
for priority implementation of 3 breakthrough aspects: Training and treating
talents in culture and arts; applying science, technology, and digital
transformation in culture; and placing order for creative works, literary
works, art works that are ideologically, inherently, artistically meaningful
and satisfactory to Vietnamese culture in the new era. Implement policies
encouraging private sector involvement in the right direction and effective
manner; fight against “commercialization”, sole emphasis of economic benefits
in cultural activities and underestimation of social, human benefits. - Develop culture industries to 7%
GPD; establish 5 - 10 national brands specializing in culture industries in
potential aspects such as: Cinematography, performance arts, cultural tourism,
fashion and design, etc. - Successfully develop 5 brand in
art celebration, international festivals in cinematography, music, arts.
Establish 1 - 3 Vietnamese culture centers in foreign countries, prioritizing
strategic comprehensive partners. Aim to have 5 more cultural heritages
recognized and recorded by UNESCO. 2. Vision to 2045 Develop and grow socialist Vietnam
culture where people is the center, actor, goal, and drive of growth; cultural
values play a fundamental role, is the standard, and is permeated in all
aspects of social life. Re-affirm cultural position of a developed country with
high income and socialist-oriented. Vietnam becomes a popular destination for
regional and international cultural, art events; one of many active culture -
creative industry centers with some primary parameters as follows: - Culture industry and innovation
economy becomes a foundation of sustainable development and aims to contribute
9% GDP. - Develop 10 international art and
cultural festival brands; aim to have approximately 8 - 10 more cultural
heritages recognized and recorded by UNESCO. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. III- TASKS AND
SOLUTIONS 1. Extensively
renovate reasoning, highly unify awareness and actions for culture development
in the new era - Committees of Communist Party of
all levels, cadres, party members, and the general public are fully, thoroughly
aware of fundamental role, important internal strength of culture in national
development Strengthen role and responsibility of figureheads of committees of
Communist Party, figureheads of all levels in performance of cultural
development tasks. - Extensively communicate the
principle of culture development at equal importance to political, economy,
society, association with development of cultural security, human security, and
digital culture sovereignty. Direct, coordinate, emphasize culture aspects in
policymaking process for policies on developing, facilitating, mobilizing
social resources for cultural development. Culture must deeply permeate all
planning, plans, schemes, and projects with long-term vision and high
standards, be uniform and complementary with other breakthrough policies,
solutions for economic growth, education, science, technology, and digital
transformation. Emphasize the role of people as the most important center,
actor, objective, and drive of sustainable development. - Promote frequent, continuous, and
effective communication and education pertaining to culture where the press and
publication play the vital role. Diversify means of communication, especially
modern means of communication and digital communication. Create and orient
healthy culture, information, and enjoyment environment; promote education of
cultural value, family value, and Vietnamese persons standards; discover and
duplicate examples of good role models and good merits. Actively advertise
Vietnamese culture to the world and selectively receive essence of human
culture in general. Exercise the role and duty of artists, intellectuals,
people engaged in culture works, businesspersons, traditional artists,
reputable people, influencers, religious figures as a vital force to cooperate
with the general public in creating and propagating positive cultural value. 2. Finalize
institutions, create strategic breakthroughs, facilitate resources for cultural
development - Adequately, consistently
institutionalize and arrange implementation of principles, policies of the
Communist Party pertaining to culture. Focus on developing laws pertaining to
artistic activities, literary, copyright, culture industry, etc. in a manner
that facilitate resources for cultural development. Amend and supersede
legislative documents plagued with difficulties and repetitions; resolve
restrictions in terms of institutions, amend legal framework to resolve new
issues in implementation. Ensure feasibility, consistency, and connection
between culture laws and relevant laws; between cultural policies and policies
on education - training, science - technology, innovation and development of
private economy. Finalize institutions and policies on international
integration pertaining to culture in a manner compliant with international
practices and commitment. - Develop, promulgate, and arrange
implementation of National cultural index, Statistical index for contribution
of culture industries to economic growth according to international standards. - Develop breakthrough policies on
science and technology development, innovation, digital transformation in
culture; develop new models for culture economy, key projects, large scale
projects in culture, innovation industrial parks and industrial complexes.
Assist culture industry enterprise in accessing and applying advanced
technology in production of digital contents, developing culture products and
services, and protecting intellectual property on digital environment; attract
investment from major technology groups in digital infrastructures and develop
advanced technology solutions for culture application; prioritize investment in
leading multimedia press agencies. Carry out pilot implementation of new
cultural business models associated with digital platforms; encourage private
sectors to investment in cultural training facilities and culture institutions,
especially in disadvantaged areas, remote areas, rural areas, and ethnic
minority areas. Develop highly incentive policies pertaining to land, corporate
income tax exemption and reduction for innovation enterprises in culture,
prioritize culture industry and entertainment industry. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Develop policies on commendation
for traditional craftsman and artists; facilitate and encourage artists to
participate and win major prizes in reputable, prestigious worldwide arts
competitions and exhibitions. Develop effective regulations to bring highly
valuable Vietnamese works of art and Vietnamese cultural heritages qualified as
national artifacts and precious relics in foreign countries to Vietnam. Develop
regulations on placing orders of creative works and popularizing cultural,
literary, artistic works that are highly valuable in terms of ideology, contents,
and arts satisfactory to Vietnamese culture in new era. - Carry out pilot implementation
for urgent matters requiring immediate implementation in order to make
breakthrough in developing culture if no legislative documents or regulations
are promulgated. 3. Prioritize
comprehensive development of Vietnamese people, development of civilized,
healthy, polite, modern culture environment - Emphasize human character
development to guide cultural, education, scientific activities in order to
provide comprehensive human development in terms of moral - intellectual -
physical - aesthetic; assist people in improving their intellectual,
personality, shaping their scientific view, and heading towards honest -
kindness - beauty values. Prioritize ethic and culture education in all
education establishments from preschool level; strengthen cooperation between
family - school - society in forming and developing Vietnamese human character,
especially younger generations. Exercise cultural value of “Bộ đội Cụ Hồ”,
Uncle Ho’s 6 teachings for people’s public security, "công bộc của
dân" model, exemplary culture of cadres, party members, public servants,
public employees together with developing culture in the Communist Party and
political system. Develop businesspersons teams with moral standards and
business culture rich with traditional value and international business
culture. - Uniformly implement culture value
system (ethnic group, democracy, humanity, science), national value system
(peace, unification, independence, prosperous citizens, prosperous nation,
democracy, equality, civility, happiness), family value system (prosperity,
happiness, progressiveness, civility), Vietnamese people standard (patriotism,
unification, independence, honesty, self-reliance, accountability, discipline,
creativity). Harmoniously combine traditional values and modern values,
national values and international values, contribute to comprehensive
development of humans, social moral, and national virtues in new era. - Shape cultural environment in
development spaces of each region and administrative division; utilize cultural
spaces of urban areas, rural areas, ocean, and mountainous regions. Develop
civilized, healthy, modern cultural environment; emphasize respect for the law
in families, schools, all aspects of social life on social media, the law,
social standards, traditional value, unification, sharing, sympathy, empathy,
and social accountability. Develop healthy digital environment, improve
awareness of the law and citizen accountability on digital space; promulgate
code of conduct on digital space; cleanse digital culture environment. - Develop grassroots culture in a
manner appropriate to two-level local governments; develop rich, light - green
- clean - pretty grassroots cultural community; emphasize residential areas as
the nucleus of cultural environment, the people the actor and center. Associate
culture development with respect and protection of ecosystem; utilize
self-management capability of community, family tradition; utilize community
conventions; ensure adequate and effective implementation of culture and sports
institution. Utilize positive factors of religion. Maintain traditional
festivals and guide development of new festivals in order to utilize culture
and associate with tourism and economic growth. - Develop culture campaign
associated with national defense and security, firmly protect belief foundation
of the Communist Party. Rectify, limit, reduce negative behaviors or reductive
in morals, lifestyle, materialist ideals, “group benefits” in cultural
activities. Strictly deal with misinformation, toxic information, false
information on social media and mass media. Utilize fundamental values of
culture in forming strength and “resistance” to complicated and deviant effect
of foreign culture; maintain traditional virtues and contribute towards pride
and desires to contribute to national development. - Ensure the right to inherit and
create of culture, equal access to culture; develop cultural services and
better satisfy people’s demands. Develop and operate digital culture platforms
for the general public, provide digital library services, digital museum
services, online performance arts, online art classes for free or with low
entry costs in order to narrow the gap of culture access in regions, areas, and
classes. Ensure equality in access to cultural values for vulnerable groups
such as people with disabilities, poor people, children, ethnic minorities;
preserve and utilize traditional values, cultural virtues of ethnic minorities.
Choose November 24 as the “Ngày Văn hoá Việt Nam” (Vietnam Culture Day) as a
national holiday where the general public can enjoy culture, artists are
encouraged to create, society is enabled to emphasize and practice cultural,
civilized lifestyle. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Implement modern culture
administration methods of which core principles revolve around effectiveness
and multicenter participation (Government - market - society - community);
foundation revolves around transparency and accountability; measurement
revolves around creativity and results of institution innovation and procedure
digitalization. Move from pre-control to post-control and combine with
development and transparency of procedures, standards, regulations, and
arrangement of implementation; apply digital technology in supervising, guiding
online culture contents; promulgate standards of digital cultural products and
environment; develop digital cultural services with appropriate and effective
management regulations. Finalize common standard system, digital maps of
culture, develop distribution platform for digital contents, copyright
protection tools, apply data analysis and digital technology in some cultural
aspects. - Arrange concise, effective
cultural administration apparatus, move from management to administration,
clear decentralization and assignment, promote administrative procedure reform
in a simple, convenient, transparent direction; improve self-reliance
capability of public service providers, promote private sector involvement in
provision of public services in culture. Respect the presence and development
of healthy cultures; facilitate development of popular cultures associated with
“dân tộc hóa” (making things appropriate for Vietnamese people), “khoa học hóa”
(making things scientific) principles, strengthen mainstream role of high
culture. - Actively adapt to scientific,
technology development, innovation, digital transformation in cultural
development. Develop and effectively utilize national culture data
infrastructures, common digital platforms connected and synchronized with
national database; develop digital contents, Vietnamese culture digital
infrastructures. Standardize and digitalize tangible and intangible cultural
heritages, literary works works of art of high value; manage data pertaining to
digital culture security and sovereignty. Develop digital infrastructures,
strengthen the use of artificial intelligence (AI), big data, virtual reality,
blockchain, etc. in production, distribution, consumption, and management of
culture. Develop “digital culture”, “open museum”, “mobile theater”, “digital
library" institutions accessible for all ages. - Pay attention to policy
communication. Make dramatic changes in operation and management of mass media
system, new means of communication; develop telecommunication and information
models on digital platforms; protect intellectual property, innovation brands,
culture security on the internet, and digital culture sovereignty. 5. Develop
culture ecosystem, promote innovation where enterprises are the drive and
general public are the actors and center; identification and appropriate
treatment of cultural resources - Develop culture ecosystem rich
with Vietnamese characteristics, diverse, modern, capable of guiding and
promoting sustainable society development. Enterprises, especially enterprises
in culture industry, creative and entertainment industry are the key drive
promoting culture creativity and innovation. The general public are both the
actor and the center of culture creativity and innovation, and beneficiary of
cultural value and achievements, create modern culture audience associated with
digital environment and innovation. - Establish creative spaces for
digital contents, creative environment for enterprise and organization
community to produce, provide cultural products and services via connection and
exchange activities. Encourage enterprises to investment digital cultural
products and services; connect culture with tourism, commerce, and technology,
create value chain. Develop culture innovation - digital content creation
centers. Guide development of market for interregional creative products,
establish “regional creative centers” associated with major cities, important
tourist resorts, and creative community in order to increase possibility of
connecting domestic and international creative value chain. - Fully recognize and effectively
access cultural resources; view cultural heritage as the center and digital
culture resources as advantages in preservation, utilization, sustainable
development of cultural value. Enable the general public to participate in
production, consumption, review, and share benefits of cultural resources.
Invest in preserving, restoring, and utilizing value of cultural values
together with sustainable development of environment, culture, economy, society
and community livelihood, create heritage cities, develop heritage economy,
finalize culture ecosystem. - Utilize, honor, release
creativity facilitate experts, intellectuals, talented artists, students, and
learners with exceptional capability in culture and arts to receive training,
advanced training and create, contribute, improve. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Focus on deliberate and
goal-oriented development of culture industries (cinematography, music, arts,
culture tourism, design, fashion, traditional crafts, video games, food,
software/digital contents). Research and carry out pilot implementation of
models utilizing high technology throughout value chain of culture industries
from creation, production, distribution, consumption and copyright protection. - Develop infrastructures and
create key market for competitive culture industries; establish culture -
creativity complexes, sectors; develop culture - creativity groups of national
and international scale; develop and operate trading platforms for cultural,
arts products, especially those in digital form. - Reinforce local brands by
developing unique, rich cultural products and services; gradually form national
brands. Navigate and advertise national brands on international market with
rich Vietnamese people and tradition. Promote export of culture products and
services, publication of communication and multimedia products, etc. Develop
culture brands with high quality, competitiveness, and contribution to digital
economy, green economy, circular economy and turn Vietnam into a country with
strong cultural brand in global value and supply-demand chain. - Restructure, improve quality and
competitiveness of Vietnam’s tourism. Develop tourism products rich in
traditional virtues and experience; promote smart, green, clean, reduced
emission tourism; establish interregional and interdisciplinary connection;
improve quality of human resources. Develop national brands pertaining to
tourism, tourism rich in Vietnamese culture and people, Vietnam destination
brand associated with cultural value. 7. Mobilize and
effectively use resources, develop infrastructures, improve quality of culture
human resources satisfactory to requirements of new era - Conduct research and evaluation
of total economic value (TEV), develop Vietnam destination branding worldwide,
turn heritages into property, establish a model of “di sản dẫn dắt phát triển
kinh tế” (economic growth guided by heritage) in worldwide heritage complex and
heritage cities; ensure socio-economic development and environmental protection
compliant with heritage preservation and sustainable development principles of
UNESCO. - Effectively implement National
target program for cultural development of 2025 - 2035 period; improve
effectiveness of state investment management in culture, ensure adequate
funding for approved programs and schemes. Increase public investment in
culture in a goal-oriented manner, attract socially responsible investment;
prioritize grassroots culture, cultural heritage, innovation, training, culture
industry, especially digital technology in culture industry. Focus on investment,
improvement of culture infrastructures, prioritize culture institutions of
national scale, regional and international level such as: National museums,
national theaters, national art centers, etc.; develop, improve, ensure
effective and uniform operation of grassroots culture, sports institution
system, create modern culture public service system suitable with regional and
ethnic characteristics. - Develop human resource
development strategy, especially development strategy for high quality human resources,
strategic cadres, culture human resources; prioritize planning, training,
advanced training, and improvement for managerial personnel, cadres, public
servants, employees, especially leading cadres and individuals engaged in
culture and arts in administrative divisions. Develop network of domestic and
foreign culture experts. - Renovate art education in
education establishments, assist students in potential development, prepare
human resources in advance and shape aesthetic trend. Prioritize development
and improvement of research institutes, culture training facilities in modern
and advanced model. Develop specialized training programs for culture, art,
creative industry, and culture data administration; allow integrated training
of formal education - arts - technology in order to train high quality human
resources. Strengthen international cooperation in training; continue to send
students, teachers, and cadres to receive short-term, long-term training in
culture and art in developed countries. Prioritize training and advanced
training of high quality human resources for culture industries, especially
personnel specialized in science, technology, innovation, digital
transformation in culture, and digital content creators. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 8. Actively,
positively engage in international integration in culture, exercise Vietnamese
culture value, receive essences of human culture, increase national soft power
- Exercise important role of
culture in foreign affairs at all levels, contribute towards development of
national brand, increase national ranking. Exercise unique cultural value,
traditional virtues and creativity of Vietnamese people; actively adapt to
influence competition in the region and worldwide. Bring culture and art into
official programs within framework of visits and business trips of high-ranking
figureheads of the Communist Party and Vietnamese Government in foreign
countries and visiting high-ranking figureheads of foreign countries. - Develop plans for promoting,
increasing effectiveness of international integration pertaining to culture of
Vietnam. Strengthen negotiation and signing of international treaties and
agreements in culture; improve effectiveness of implementation of international
commitments, especially conventions pertaining to culture and new-generation
free trade agreements in copyright and intellectual property. Incorporate
culture details in bilateral and multilateral economic and commercial
cooperation conventions, agreements in order to create favorable legal
framework, reduce barrier and expand market of Vietnamese culture exports,
increase soft power of Vietnam. - Establish and improve operational
effectiveness of Vietnamese cultural centers in foreign countries that are
comprehensive strategic partners, strategic partners, and comprehensive
partners of Vietnam; deploy cultural counselors and attaché; develop cultural
cadre staff in international and regional organizations. Exercise the role of
diplomacy representative missions and community of overseas Vietnamese in
advertising traditional culture. Development duplicate “Tự hào là người Việt
Nam” (Proud to be Vietnamese); expand classes for Vietnamese language, enable
overseas Vietnamese, international organizations and communities to introduce
Vietnam, Vietnamese people, and Vietnamese culture; assist in duplicating
Vietnamese neighborhood model, Vietnamese village model, Vietnamese culture
clubs, Vietnamese language learning clubs, etc. in countries with high number
of Vietnamese communities, establish Vietnamese restaurant chains in foreign
countries. - Promote hosting of cultural,
international art events and deep participation in major forums. Implement
close cooperation between communication, diplomacy of culture and export of culture
industry products - services, develop national brands for culture - creative
products and services rich with Vietnamese characteristics; export globally
competitive culture products - services (cinematography, music, arts, culture
tourism, design, fashion, traditional crafts, video games, food,
software/digital contents). Develop and shape Vietnamese brands, goods,
products with unique cultural value (such as durability, beauty, green,
courtesy, etc.). Exercise value of cultural heritages recognized and recorded
by UNESCO to advertise Vietnam and Vietnamese people, increase overall national
power. - Develop media campaign to
advertise Vietnam image in foreign country, use culture as the foundation and
support, portray Vietnam as a culturally rich, kind, responsible country with
positive contribution to mankind civilization. Implement comprehensive
multimedia, multiplatform, multilingual media campaign, effectively utilizing
television, newspaper, social medial, online platforms; prioritize organizations
in countries that are comprehensive strategic partners, strategic partners, and
territories with high number of overseas Vietnamese and are also important
market for Vietnamese commerce and tourism. Cooperate with global influencers
and content creators in accessing regional and worldwide audience, develop
network of “đại sứ văn hóa” (cultural ambassador). Assist/finance translation
and publication of Vietnamese literature and arts in foreign countries in
various languages and facilitate introduction, publication of literature works
in foreign languages in Vietnam. Implement effective solutions for preventing
infiltration of offensive, uncultured foreign elements, especially via
cross-border online platforms. IV- ORGANIZING
IMPLEMENTATION 1. Establish Central
Steering Committee for Vietnamese culture development where the Permanent
Member of the Secretariat acts as the Director; composition of the committee
includes figureheads of relevant agencies who frequently direct, supervise,
arrange comprehensive and effective implementation of Resolution. 2. Communist Party Committee
of the National Assembly shall direct review, improvement of regulations of the
law pertaining to Vietnamese culture development; strengthen monitoring of
implementation as per the law. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. 4. Communist Party Committee
of the Vietnamese Fatherland Front, central unions shall lead, coordinate
development of programs, plans for guiding, mobilizing the general public to
implement the Resolution; supervise and implement social review; develop and
improve regulations, policies pertaining to Vietnamese culture development. 5. The Central Committee for
Propaganda and Mass Mobilization shall take charge, cooperate with the
Communist Party Committee of the Ministry of Culture, Sports and Tourism in
popularizing, communicating, providing education, and propagating the
Resolution in a consistent manner within political system. 6. Provincial committees and
city committees shall lead, coordinate popularization and strict implementation
of the Resolution; ensure adequate resources for cultural development,
strengthen examination and supervision of implementation of the Resolution in
local administrative divisions. 7. Communist Party Committee
of the Government shall take charge, cooperate with the Central Committee for
Propaganda and Mass Mobilization, the Central Committee for Policy and
Strategy, and Office of Central Communist Party in monitoring, evaluating
Resolution implementation results; establish regulations on monitoring,
supervising, examining, evaluating implementation of the Resolution in a manner
where results are managed via criteria associated to each objective, roadmap to
2030, and vision to 2045, reporting to the Politburo. This Resolution is to be
communicated to grassroots level. P.P
THE POLITBURO
GENERAL SECRETARY
To Lam ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
14/08/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
18/08/2025
Ban hành:
30/12/2022
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
28/06/2023
Ban hành:
28/10/2020
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
25/12/2023
11.894
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|