Toàn văn Kế hoạch 60/KH-UBND về phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu 120000 căn giai đoạn 2026-2030?
Ngày 12/02/2026 UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch 60/KH-UBND năm 2026 về phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu 120.000 căn giai đoạn 2026-2030.

>>> Tải về Toàn văn Kế hoạch 60/KH-UBND năm 2026
Theo đó, chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội được xác định tại Kế hoạch 60/KH-UBND năm 2026 như sau:
- Giai đoạn 2026-2030: Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND Thành phố tại Thông báo 358-TB/ĐU năm 2026 của Đảng ủy UBND Thành phố về chủ trương thông qua và ban hành Kế hoạch phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu tối thiểu 120.000 căn giai đoạn 2026-2030; trên cơ sở báo cáo kết quả rà soát, đề xuất của Sở Xây dựng, UBND Thành phố xác định chỉ tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030: dự kiến triển khai 148 dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, tổng quy mô sử dụng đất khoảng 568,3 ha với khoảng 135.602 căn hộ.
Đồng thời, tiếp tục phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang (với tổng nhu cầu khoảng 62.800 căn) song song với phát triển nhà ở xã hội để bổ sung quỹ nhà ở xã hội của Thành phố, đảm bảo đáp ứng chỉ tiêu được giao.
(Chi tiết tại Phụ lục 1 Danh mục Nhà ở xã hội trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2026-2030 hoàn thành chỉ tiêu tối thiểu 120.000 căn hộ).
Các chỉ tiêu nhà ở xã hội nêu trên là dự kiến và sẽ được xác định cụ thể khi lập, trình phê duyệt quy hoạch chi tiết dự án đầu tư theo quy định; đảm bảo hoàn thành tối thiểu 120.000 căn theo chỉ tiêu đã được Thành ủy Thành phố giao tại Kế hoạch 355-KH/TU trong giai đoạn 2026-2030; phù hợp với chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội theo định hướng tại điều chỉnh Chương trình phát triển thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2030 đã được Thường trực, Ban Thường vụ Thành ủy, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố, HĐND Thành phố thông qua; đồng thời, dự phòng đối với trường hợp các dự án chưa đảm bảo tiến độ được duyệt do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng.
- Giai đoạn 2026-2035: Triển khai hoàn thành khoảng 500.000 căn nhà ở xã hội. Các dự án nhà ở xã hội dự kiến hoàn thành giai đoạn sau 2030, các dự án tiếp tục đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 192/2025/NQ-CP của Chính phủ và đề xuất thực hiện tại các vị trí ô đất công bố công khai theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 192/2025/NQ-CP của Chính phủ, các dự án chuyển đổi từ loại hình nhà ở khác thành nhà ở xã hội sẽ được rà soát, cập nhật vào Kế hoạch 60/KH-UBND năm 2026.
(Chi tiết tại Phụ lục 2. Danh mục các vị tríô đất công bố công khai theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 192/2025/NQ-CP của Chính phủ đính kèm theo).

Toàn văn Kế hoạch 60/KH-UBND về phát triển nhà ở xã hội thành phố Hà Nội hoàn thành chỉ tiêu 120000 căn giai đoạn 2026 2030? (Hình ảnh từ Internet)
Điều kiện để được mua nhà ở xã hội năm 2026 cụ thể thế nào?
Điều kiện để được mua nhà ở xã hội năm 2026 được quy định tại Điều 29, Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Điều kiện về nhà ở
(1) Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó tại thời điểm nộp hồ sơ đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, Văn phòng/Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó thực hiện việc xác nhận đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP.
(2) Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở 2023 có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m2 sàn/người. Diện tích nhà ở bình quân đầu người quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP. được xác định trên cơ sở bao gồm: người đứng đơn, vợ (chồng) của người đó, cha, mẹ (nếu có) và các con của người đó (nếu có) đăng ký thường trú tại căn nhà đó.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc xác nhận đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP.
Lưu ý:
Trách nhiệm xác nhận cho đối tượng vào đơn đề nghị có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của Văn phòng/Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP. do Văn phòng đăng ký đất đai/Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đặt tại các đơn vị hành chính cấp xã hoặc khu vực liên xã, phường thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội thực hiện bởi khoản 2 Điều 14 Nghị định 140/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 (VB hết hiệu lực: 01/03/2027).
Điều kiện về thu nhập
(1) Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
(i) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(ii) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
(iii) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại (i), (ii) là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
(iv) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại (i), (ii) nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
(2) Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập theo quy định tại (1) và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận căn cứ thông tin cơ sở dữ liệu về dân cư để thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập
(3) Đối với đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì phải thuộc trường hợp hộ gia đình nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ.
(4) Đối với đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở 2023 thì áp dụng điều kiện thu nhập theo quy định tại Điều 67 của Nghị định 100/2024/NĐ-CP.
Việc cho thuê mua nhà ở xã hội phải đảm bảo yêu cầu nào?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 89 Luật Nhà ở 2023 quy định việc cho thuê mua nhà ở xã hội được thực hiện theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 88 Luật Nhà ở 2023 và các quy định sau đây:
(i) Thời hạn thanh toán tiền thuê mua nhà ở xã hội tối thiểu là 05 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở;
(ii) Bên thuê mua nhà ở xã hội không được bán lại nhà ở trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày thanh toán đủ tiền thuê mua nhà ở theo thời hạn quy định tại (i), trừ trường hợp quy định tại (iii);
(iii) Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền thuê mua nhà ở mà có nhu cầu bán nhà ở này thì chỉ được bán lại cho cơ quan quản lý nhà ở trong trường hợp thuê mua nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng bằng vốn đầu tư công hoặc bán lại cho chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trong trường hợp thuê mua nhà ở xã hội được đầu tư xây dựng không bằng vốn đầu tư công hoặc bán lại cho đối tượng thuộc trường hợp được mua nhà ở xã hội với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội này trong hợp đồng mua bán với cơ quan quản lý nhà ở hoặc chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Việc nộp thuế thu nhập cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế;
(iv) Sau thời hạn 05 năm, kể từ ngày bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền thuê mua nhà ở xã hội theo thời hạn quy định tại (i), bên thuê mua được bán lại nhà ở này theo cơ chế thị trường theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 88 Luật Nhà ở 2023.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];