Thời hạn, thẩm quyền kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức theo Quy định 20-QĐ/TW như thế nào?
Ngày 08/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có Quy định 20/QĐ-TW năm 2026 về thi hành Điều lệ Đảng.
Theo đó, tại Điều 5 Quy định 20/QĐ-TW năm 2026 hướng dẫn về việc kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức như sau:
(1) Thời hạn tổ chức lễ kết nạp
Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày cấp ủy có thẩm quyền ban hành quyết định kết nạp, chi bộ phải tổ chức lễ kết nạp cho đảng viên. Nếu để quá thời hạn nêu trên phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý.
(2) Thời điểm công nhận đảng viên chính thức
- Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày đảng viên hết 12 tháng dự bị, chi bộ phải xét và đề nghị công nhận chính thức cho đảng viên; nếu không đủ điều kiện công nhận là đảng viên chính thức thì đề nghị lên cấp ủy có thẩm quyền quyết định xóa tên.
- Đảng viên dự bị đủ điều kiện được công nhận là đảng viên chính thức, dù chi bộ họp chậm, cấp ủy có thẩm quyền chuẩn y chậm, vẫn được công nhận đảng viên chính thức đúng thời điểm hết 12 tháng dự bị. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị công nhận chính thức của chi bộ, cấp ủy có thẩm quyền phải ban hành quyết định chuẩn y.
- Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới đã qua 3 lần biểu quyết nhưng không đủ hai phần ba số đảng viên chính thức hoặc cấp ủy viên tán thành công nhận một đảng viên dự bị là đảng viên chính thức hoặc đề nghị xóa tên trong danh sách đảng viên thì báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp và cấp ủy có thẩm quyền xem xét, quyết định.
(3) Thời hạn, thẩm quyền quyết định kết nạp đảng viên, xét công nhận đảng viên chính thức
- Trong thời hạn 45 ngày làm việc kể từ ngày chi bộ có nghị quyết đề nghị kết nạp; trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày chi bộ có nghị quyết đề nghị công nhận chính thức, thì cấp ủy có thẩm quyền phải xem xét, quyết định; trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tối đa 15 ngày làm việc. Việc đồng ý hoặc không đồng ý, phải thông báo kết quả cho chi bộ nơi đề nghị kết nạp đảng viên hoặc công nhận đảng viên chính thức biết. Nếu để quá thời hạn trên mà không có lý do chính đáng thì phải kiểm điểm trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên.
- Thẩm quyền quyết định kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức.
+ Đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên: Do tập thể đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định.
+ Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền cấp trên cơ sở, đảng ủy được thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở: Do ban thường vụ xem xét, quyết định.
+ Tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương: Do tập thể thường trực cấp ủy và các đồng chí ủy viên ban thường vụ là trưởng các ban đảng cùng cấp xem xét, quyết định.
+ Thẩm quyền quyết định kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức trong Đảng bộ Quân đội và Đảng bộ Công an Trung ương: Thực hiện theo quy định này và quy định riêng của Bộ Chính trị.
(4) Trường hợp kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên chính thức sai quy định
Cấp ủy cấp trên, qua kiểm tra, xác minh phát hiện việc kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên chính thức sai quy định thì xử lý như sau:
- Nếu quyết định kết nạp người vào Đảng, công nhận đảng viên chính thức không đúng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 1 Điều lệ Đảng thì cấp Ủy ban hành quyết định hoặc cấp ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia tách, hợp nhất, sáp nhập phải hủy bỏ quyết định đó và thông báo cho đảng bộ, chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt xoá tên trong danh sách đảng viên. Trường hợp tổ chức đảng ban hành quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức đã giải thể hoặc bị giải tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt hủy bỏ quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức không đúng tiêu chuẩn, điều kiện.
- Nếu quyết định kết nạp người vào Đảng, công nhận đảng viên chính thức không đúng thẩm quyền, không đúng thủ tục theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Điều lệ Đảng:
+ Trường hợp được cấp có thẩm quyền xác định là lỗi của tổ chức thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt đề nghị cấp ủy đã ban hành quyết định kết nạp đảng viên hoặc cấp ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia tách, hợp nhất, sáp nhập hủy bỏ quyết định đó, chỉ đạo làm lại các thủ tục theo quy định và xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan; trường hợp tổ chức đảng ban hành quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức đã giải thể hoặc bị giải tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt tiến hành thẩm tra, xác minh và làm lại các thủ tục theo quy định. Ngày vào Đảng được tính từ ngày ban hành quyết định kết nạp lần đầu.
+ Trường hợp được cấp có thẩm quyền xác định là lỗi của cá nhân người vào Đảng thì cấp Ủy ban hành quyết định hoặc cấp ủy có thẩm quyền của tổ chức đảng thành lập sau chia tách, hợp nhất, sáp nhập hủy bỏ quyết định đó và thông báo cho đảng bộ, chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt xoá tên trong danh sách đảng viên; trường hợp tổ chức đảng ban hành quyết định kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức đã giải thể hoặc bị giải tán thì cấp ủy có thẩm quyền nơi đảng viên đang sinh hoạt hủy bỏ quyết định kết nạp đảng viên.
(5) Tính tuổi Đảng của đảng viên
- Đảng viên được công nhận chính thức thì tuổi Đảng của đảng viên được tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành quyết định kết nạp, trừ thời gian không tham gia sinh hoạt đảng.
Thời gian không tham gia sinh hoạt đảng là: Thời gian bị khai trừ (kể cả khai trừ có thời hạn theo quy định của Điều lệ Đảng khoá II), thời gian bị xoá tên, thời gian mất liên lạc với tổ chức đảng và thời gian gián đoạn do chuyển sinh hoạt đảng.
- Đảng viên kết nạp lại được công nhận chính thức thì tuổi Đảng tính từ ngày cấp có thẩm quyền ban hành quyết định kết nạp lần đầu đối với đảng viên đó, trừ thời gian không tham gia sinh hoạt đảng (trường hợp đặc biệt do Ban Bí thư xem xét, quyết định).

Thời hạn, thẩm quyền kết nạp đảng viên và xét công nhận đảng viên chính thức theo Quy định 20-QĐ/TW như thế nào? (Hình ảnh từ Internet)
Phát thẻ và quản lý sử dụng thẻ đảng viên theo Quy định 20/QĐ-TW
Căn cứ tại khoản 6.1 Điều 6 Quy định 20/QĐ-TW năm 2026 quy định về việc phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên như sau:
- Thẻ đảng viên được phát cho đảng viên chính thức, chi bộ tổ chức phát thẻ cho đảng viên trong kỳ sinh hoạt chi bộ gần nhất, sau khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Đảng viên được nhận thẻ đảng viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ, khi mất hoặc hỏng thẻ phải báo cáo ngay bằng văn bản với cấp ủy, chi bộ quản lý trực tiếp, nêu rõ lý do mất hoặc hỏng thẻ để xem xét, đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ đảng viên.
- Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng, đảng ủy được giao quyền hoặc thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở hoặc đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp, khai trừ đảng viên xem xét, ban hành quyết định phát thẻ đảng viên và quản lý sổ phát thẻ đảng viên.
- Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo và kiểm tra việc phát, quản lý thẻ đảng viên; xem xét, ban hành quyết định phát thẻ đảng viên và quản lý sổ phát thẻ đảng viên đối với tổ chức cơ sở đảng trực thuộc.
- Ban Tổ chức Trung ương giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định, phê duyệt, phát hành, quản lý thống nhất thẻ đảng viên trong toàn Đảng.
- Sử dụng thẻ đảng viên: Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín); thực hiện các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường số theo quy định.
Quyền của đảng viên là gì?
Theo Điều 3 Quy định 20/QĐ-TW năm 2026 quy định về quyền của đảng viên như sau:
[1] Quyền được thông tin của đảng viên.
Định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất, theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương và cấp ủy cấp trên, các cấp ủy, tổ chức đảng thông tin cho đảng viên về tình hình, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị; các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thời sự trong nước, thế giới... phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm của tổ chức đảng và đảng viên, góp phần nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
[2] Quyền của đảng viên trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng.
Thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
[3] Quyền của đảng viên trong việc phê bình, chất vấn tổ chức đảng và đảng viên; báo cáo, kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm.
Đảng viên được phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị trực tiếp hoặc bằng văn bản trong phạm vi tổ chức của Đảng về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; về những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức của đảng viên đó; chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng về ý kiến của mình. Khi nhận được ý kiến phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị, tổ chức đảng và đảng viên có trách nhiệm phải trả lời theo thẩm quyền, chậm nhất là 30 ngày làm việc đối với tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, 60 ngày làm việc đối với cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng và cấp tỉnh, 90 ngày làm việc đối với cấp Trung ương. Những trường hợp phức tạp cần phải kéo dài hơn thời gian quy định trên thì phải thông báo cho tổ chức đảng và đảng viên biết lý do.
[4] Đảng viên được tổ chức đảng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng.
[5] Đảng viên được thông báo ý kiến nhận xét của cấp uỷ nơi làm việc và nơi cư trú khi xem xét bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, được trình bày ý kiến với tổ chức đảng, cấp uỷ đảng khi xem xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];