Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?

Nguyễn Thị Minh Hiếu 11,802 lượt xem
14:04 | 01/12/2025
Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?
Nội dung chính
  1. Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?
  2. Bác tin sáp nhập tỉnh thành lần 2 sáp nhập từ 34 tỉnh thành còn 16 tỉnh thành?
  3. Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được quy định như thế nào?

Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?

MỚI: Chính thức chia tách tỉnh thành từ 16/12/2025

NÓNG: Bản tóm tắt Đề án tiếp tục sáp nhập tỉnh chính thức

Căn cứ theo Nghị quyết 202/2025/QH15 sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh do Quốc hội ban hành thì:

Từ ngày 12/6/2025

Từ ngày 1/7/2025

Cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (gồm cấp tỉnh và cấp xã/phường) chính thức hoạt động, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 06 thành phố; trong đó có 19 tỉnh và 04 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế.

Theo Nghị quyết 306/NQ-CP năm 2025, tịa miền Bắc phân thành thành 02 vùng kinh tế xã hội như sau:

Vùng trung du và miền núi phía Bắc

Vùng đồng bằng sông Hồng

Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La

Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh

Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội đặt trung tâm hành chính như sau:

TT

Tên tỉnh, thành mới

Trung tâm hành chính

1

Tuyên Quang

(Hà Giang + Tuyên Quang)

Tuyên Quang

2

Lào Cai

(Lào Cai + Yên Bái)

Yên Bái

3

Lai Châu

Lai Châu

4

Điện Biên

Điện Biên Phủ

5

Lạng Sơn

Lạng Sơn

6

Cao Bằng

Cao Bằng

7

Sơn La

Sơn La

8

Thái Nguyên

(Bắc Kạn + Thái Nguyên)

Thái Nguyên

9

Phú Thọ

(Hòa Bình + Vĩnh Phúc + Phú Thọ)

Phú Thọ

10

Quảng Ninh

Quảng Ninh

11

Bắc Ninh

(Bắc Giang + Bắc Ninh)

Bắc Giang

12

Hưng Yên

(Thái Bình + Hưng Yên)

Hưng Yên

13

TP. Hà Nội

Hà Nội

14

TP. Hải Phòng

(Hải Dương + TP. Hải Phòng)

Hải Phòng

15

Ninh Bình

(Hà Nam + Ninh Bình)

Ninh Bình

Trên đây là giải thích về "Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?"

Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu?

Sáp nhập còn 9 tỉnh thành mới và 6 tỉnh thành mới trong năm 2025 tại miền Bắc thành 02 vùng kinh tế xã hội: Trung tâm hành chính đặt ở đâu? (Hình từ Internet)

Bác tin sáp nhập tỉnh thành lần 2 sáp nhập từ 34 tỉnh thành còn 16 tỉnh thành?

Vừa qua Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến Dự thảo Nghị định hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính Tải về trên mạng lại lan truyền nhiều tin đồn thất thiệt về "tiếp tục sáp nhập tỉnh thành lần 2" hay "sáp nhập còn 16 tỉnh".

BÁC THÔNG TIN tiếp tục SẮP XẾP còn 16 tỉnh, thành phố, Bộ Nội vụ Phan Trung Tuấn cho biết, hiện nay Đảng, Quốc hội, Chính phủ không có chủ trương tiếp tục thực hiện sắp xếp, sáp nhập tỉnh, thành phố hoặc các đơn vị hành chính cấp xã.

Đây là tin đồn thất thiệt, nhằm câu view từ các trang mạng xã hội, sai lệch chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

BÁC THÔNG TIN tiếp tục SẮP XẾP còn 16 tỉnh, thành phố như sau:

Ông Phan Trung Tuấn khẳng định: "Thông tin sắp xếp từ 34 tỉnh, thành hiện nay còn 16 tỉnh, thành trong giai đoạn tới đây hoàn toàn không chính xác".
Quyết định "sắp xếp lại giang sơn" là bước đi lịch sử, có ý nghĩa chiến lược, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của việc hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước, hoàn thiện thể chế và tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hướng tới hoàn thiện một nền hành chính quản trị hiện đại, gần dân, sát dân, vì nhân dân phục vụ, để mọi lợi ích thuộc về nhân dân.
Ngoài mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi ngân sách cho bộ máy; mở ra dư địa và không gian phát triển mới cho các địa phương, cuộc cách mạng về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp triển khai đầu năm 2025 còn hướng đến ''ổn định lâu dài hệ thống đơn vị hành chính".
Chủ trương lớn này đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi triển khai thực hiện.
Với sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ hệ thống chính trị, từ ngày 1/7, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (gồm cấp tỉnh và cấp xã/phường) đã chính thức hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố. Cả nước có 34 tỉnh/thành phố và 3.321 xã, phường, đặc khu.
Trước đó, sáng 12/6, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Theo đó, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố.
Trong đó, có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp quy định tại nghị quyết này gồm: Tuyên Quang, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế.
Cùng với sắp xếp đơn vị hành chính, từ ngày 1/7, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (chỉ gồm cấp tỉnh và cấp xã/phường) đã chính thức hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố.
Tiếp đó là thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền mạnh mẽ giữa trung ương và địa phương, giữa chính quyền cấp tỉnh với cấp xã theo phương châm: ''Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm''.

Lưu ý:

Cá nhân có hành vi đưa thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP). Đồng thời, buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.

(khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP)

Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương như sau:

(1) Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cơ quan nhà nước ở địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp.

(2) Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

- Xác định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả;

- Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước ở trung ương cho chính quyền địa phương; phân định rõ giữa thẩm quyền của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương;

- Phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước cấp trên được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó;

- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền; có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều chỉnh nội dung phân quyền, phân cấp khi cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân quyền, phân cấp thực hiện không hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp 2013 và pháp luật;

- Đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

- Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.

Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

(3) Việc phân quyền, phân cấp, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, các cơ quan của chính quyền địa phương tại các văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả.

Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc giải quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, không để việc giải quyết công việc, thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp bị đình trệ, ùn tắc, kém hiệu quả.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Minh Hiếu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Pháp luật
Quy định 366 và Hướng dẫn 43 về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên kèm phụ lục biểu mẫu như thế nào?

Quy định 366-QĐ/TW và Hướng dẫn 43-HD/BTCTW quy định, hướng dẫn việc kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, trong đó có đảng viên. Vậy quy định về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên thực hiện như thế nào và sử dụng những phụ lục, biểu mẫu nào?

Bài viết mới nhất