Thông báo 11241/TB-BNV về tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026 chi tiết như thế nào?
Ngày 06/10/2026, Bộ Nội vụ ban hành Thông báo 11241/TB-BNV năm 2026 về tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026.
>>> Tải về Toàn văn Thông báo 11241/TB-BNV năm 2026
Theo đó, thực hiện quy định tại Điều 36 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, Bộ Nội vụ thông báo đến các bộ, ngành, các địa phương tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026 và một số giải pháp chủ yếu nhằm chủ động ngăn ngừa sự cố và tai nạn lao động 6 tháng cuối năm 2026 như sau:
Theo báo cáo của 34/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 6 tháng đầu năm 2026 trên toàn quốc đã xảy ra 3.415 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) (tăng 846 vụ, tương ứng với 32,93% so với 6 tháng đầu năm 2025) làm 3.476 người bị nạn (tăng 843 người, tương ứng với 32,02% so với 6 tháng đầu năm 2025) (bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động), trong đó:
- Số vụ TNLĐ chết người: 378 vụ, tăng 76 vụ tương ứng 25,17% so với 6 tháng đầu năm 2025 (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 293 vụ, tăng 53 vụ tương ứng 22,08% so với 6 tháng đầu năm 2025; khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: 85 vụ, tăng 23 vụ tương ứng 37,1% so với 6 tháng đầu năm 2025).
- Số người chết vì TNLĐ: 391 người, tăng 72 người tương ứng 22,57% so với 6 tháng đầu năm 2025 (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 303 người, tăng 48 người tương ứng với 18,82% so với 6 tháng đầu năm 2025; khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: 88 người, tăng 24 người tương ứng với 37,5% so với 6 tháng đầu năm 2025).
- Số người bị thương nặng: 747 người, tăng 87 người tương ứng với 13,18% so với 6 tháng đầu năm 2025 (trong đó, khu vực có quan hệ lao động: 682 người, tăng 55 người tương ứng với 8,77% so với 6 tháng đầu năm 2025; khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: 65 người, tăng 32 người tương ứng với 96,97% so với 6 tháng đầu năm 2025).
* Tình hình TNLĐ 6 tháng đầu năm 2026, trong khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động tăng về số người chết và số vụ TNLĐ chết người so với 6 tháng đầu năm 2025.
(Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông báo 11241/TB-BNV năm 2026)
Những địa phương có số người chết do TNLĐ nhiều nhất trong 6 tháng đầu năm 2026 bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Tây Ninh, Ninh Bình, Lâm Đồng, Thanh Hoá.
Xem chi tiết tại Thông báo 11241/TB-BNV năm 2026.

Thông báo 11241/TB-BNV về tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026 chi tiết như thế nào?
Nghĩa vụ về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động ra sao?
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 thì nghĩa vụ về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động gồm:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan; đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
- Không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động;
- Cử người giám sát, kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật;
- Bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động;
- Thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động; chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động;
- Lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.
Các hành vi nào bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động?
Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động được quy định tại Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 như sau:
- Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến người, tài sản, môi trường; buộc người lao động phải làm việc hoặc không được rời khỏi nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ hoặc buộc người lao động tiếp tục làm việc khi các nguy cơ đó chưa được khắc phục.
- Trốn đóng, chậm đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không chi trả chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đúng quy định của pháp luật; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không được kiểm định hoặc kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.
- Gian lận trong các hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động, giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động.
- Phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử vì lý do người lao động từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình; phân biệt đối xử vì lý do đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an toàn, vệ sinh viên, người làm công tác y tế.
- Sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.
- Trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];