Khi nào Nhà nước trưng dụng đất? Nhà nước gây ra thiệt hại khi trưng dụng đất, người dân có được bồi thường hay không?

Lê Nhựt Hào 887 lượt xem
09:02 | 15/04/2026
Trưng dụng đất là gì? Trường hợp nếu như nhà nước trưng dụng đất của người dân nhưng để xảy ra thiệt hại thì có được bồi thường hay không? Câu hỏi của chị Ngọc Châu đến từ Đồng Nai.
Nội dung chính
  1. Trưng dụng đất là gì?
  2. Cơ quan nào sẽ có quyền trưng dụng đất theo quy định hiện nay?
  3. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp nào?
  4. Nhà nước sẽ được trưng dụng đất của người dân trong bao lâu?
  5. Nhà nước gây ra thiệt hại khi trưng dụng đất thì có được bồi thường hay không?

Trưng dụng đất là gì?

Pháp luật Việt Nam hiện nay không có bất kỳ quy định nào định nghĩa hoặc đưa ra khái niệm về trưng dụng đất.

Tuy nhiên, từ trước đến nay thì người dân hiểu rằng trưng dụng là hành động của Nhà nước, cán bộ nhà nước nhằm sử dụng tài sản thuộc sử hữu, quyền sự dụng của người dân thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch nào đó.

Trưng dụng đất cũng được người dân hiểu là việc cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền tạm thời sử dụng đất của người dân để thực hiện mục tiêu, kế hoạch hoặc yêu cầu của công việc đặc biệt nào đó theo quy định của pháp luật.

Cơ quan nào sẽ có quyền trưng dụng đất theo quy định hiện nay?

Trước đây, căn cứ vào khoản 3 Điều 72 Luật Đất đai 2013 quy định về những người có thẩm quyền trưng dụng đất như sau:

- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Bộ trưởng Bộ Công an.

- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Bộ trưởng Bộ Công Thương.

- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Theo đó thì những cá nhân nêu trên là những người có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất. Việc quyết định trưng dụng đất không được phân cấp ủy quyền cho người khác thực hiện.

Hiện nay, theo khoản 3 Điều 90 Luật Đất đai 2024 thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất, quyết định gia hạn trưng dụng đất.

Theo đó, người có thẩm quyền quyết định trưng dụng đất, quyết định gia hạn trưng dụng đất không được ủy quyền.

Trưng dụng đất là gì? Nhà nước gây ra thiệt hại khi trưng dụng đất thì có được bồi thường hay không?

Khi nào Nhà nước trưng dụng đất? Nhà nước gây ra thiệt hại khi trưng dụng đất, người dân có được bồi thường hay không? (Hình từ internet)

Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp nào?

Trước đây, căn cứ vào khoản 1 Điều 72 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

Trưng dụng đất
1. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

Theo đó, Nhà nước quyết định trưng dụng đất khi thật sự cần thiết để thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh hoặc khi xảy ra chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai.

Tại khoản 2 Điều 72 Luật Đất đai 2013 có quy định về hình thức của quyết định trưng dụng đất như sau:

Trưng dụng đất
...
2. Quyết định trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản; trường hợp khẩn cấp không thể ra quyết định bằng văn bản thì người có thẩm quyền được quyết định trưng dụng đất bằng lời nói nhưng phải viết giấy xác nhận việc quyết định trưng dụng đất ngay tại thời điểm trưng dụng. Quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ban hành.
Chậm nhất là 48 giờ, kể từ thời điểm quyết định trưng dụng đất bằng lời nói, cơ quan của người đã quyết định trưng dụng đất bằng lời nói có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản việc trưng dụng đất và gửi cho người có đất trưng dụng.

Theo đó thì quyết định trưng dụng đất phải được lập thành văn bản, trong trường hợp khẩn cấp thì có thể quyết định trưng dụng đất bằng lời nói nhưng phải viết giấy xác nhận ngay tại lúc trưng dụng đất.

Hiện nay, theo khoản 1 Điều 90 Luật Đất đai 2024 thì Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.

Nhà nước sẽ được trưng dụng đất của người dân trong bao lâu?

Trước đây, căn cứ vào khoản 4 Điều 72 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

Trưng dụng đất
…
4. Thời hạn trưng dụng đất là không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng có hiệu lực thi hành. Trường hợp trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì thời hạn trưng dụng được tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Trường hợp hết thời hạn trưng dụng đất mà mục đích của việc trưng dụng chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng không quá 30 ngày. Quyết định gia hạn trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có đất trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.

Như vậy, Nhà nước sẽ trưng dụng đất không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành.

Hiện nay, theo khoản 4 Điều 90 Luật Đất đai 2024 thì thời hạn trưng dụng đất là không quá 30 ngày kể từ khi quyết định trưng dụng đất có hiệu lực thi hành. Trường hợp hết thời hạn trưng dụng đất mà mục đích của việc trưng dụng chưa hoàn thành thi được gia hạn nhưng không quá 30 ngày. Quyết định gia hạn trưng dụng đất phải được thể hiện bằng văn bản và gửi cho người có đất trưng dụng, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trưng dụng trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng.

Trường hợp trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp thì thời hạn trưng dụng được tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Nhà nước gây ra thiệt hại khi trưng dụng đất thì có được bồi thường hay không?

Trước đây, Căn cứ vào khoản 7 Điều 72 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

Trưng dụng đất
…
7. Việc bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra thực hiện theo quy định sau đây:
a) Người có đất trưng dụng được bồi thường thiệt hại trong trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại; trường hợp người có đất trưng dụng bị thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra;
b) Trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm thanh toán;
c) Trường hợp người có đất trưng dụng bị thiệt hại về thu nhập do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào mức thiệt hại thu nhập thực tế tính từ ngày giao đất trưng dụng đến ngày hoàn trả đất trưng dụng được ghi trong quyết định hoàn trả đất trưng dụng.
Mức thiệt hại thu nhập thực tế phải phù hợp với thu nhập do đất trưng dụng mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm trưng dụng đất;
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nơi có đất trưng dụng thành lập Hội đồng để xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra trên cơ sở văn bản kê khai của người sử dụng đất và hồ sơ địa chính. Căn cứ vào mức bồi thường thiệt hại do Hội đồng xác định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định mức bồi thường.
đ) Tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra được ngân sách nhà nước chi trả một lần, trực tiếp cho người có đất trưng dụng trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày hoàn trả đất.

Hiện nay, tại khoản 7 Điều 90 Luật Đất đai 2024 quy định như sau:

Trung dụng đất
...
7. Việc bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp đất trưng dụng bị hủy hoại thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm thanh toán;
b) Trường hợp thu nhập bị thiệt hại do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào mức thiệt hại thu nhập thực tế tính từ ngày giao đất trưng dụng đến ngày hoàn trả đất trưng dụng được ghi trong quyết định hoàn trả đất trưng dụng. Mức thiệt hại thu nhập thực tế phải phù hợp với thu nhập do đất trưng dụng mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm trưng dụng đất;
c) Trường hợp tài sản bị thiệt hại do việc trưng dụng đất trực tiếp gây ra thì mức bồi thường thiệt hại được xác định theo giá chuyển nhượng tài sản trên thị trường tại thời điểm thanh toán;
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất trưng dụng thành lập Hội đồng để xác định mức bồi thường thiệt hại do thực hiện trưng dụng đất gây ra trên cơ sở văn bản kê khai của người sử dụng đất và hồ sơ địa chính. Căn cứ vào mức bồi thường thiệt hại do Hội đồng xác định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mức bồi thường;
đ) Tiền bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra được ngân sách nhà nước chi trả một lần, trực tiếp cho người có đất trưng dụng, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trưng dụng trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày hoàn trả đất.

Theo đó, việc bồi thường thiệt hại do Nhà nước trưng dụng đất gây ra sẽ được thực hiện theo quy định nêu trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Bất động sản Xem thêm

Pháp luật
Cho ở nhờ có phải là một giao dịch dân sự để thực hiện chứng thực, công chứng không? Những yêu cầu nào không được chứng thực và người thực hiện chứng thực được quyền từ chối?

Cho ở nhờ có phải là một giao dịch dân sự để thực hiện chứng thực, công chứng không? Những yêu cầu nào không được chứng thực và người thực hiện chứng thực được quyền từ chối?

Bài viết mới nhất

Pháp luật
TP.Hồ Chí Minh khai mạc Ngày hội Công dân số năm 2026, lan tỏa tinh thần học tập suốt đời

(Hochiminhcity.gov.vn) - Ngày 9/10, tại Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.Hồ Chí Minh (số 123 Trương Định, phường Xuân Hòa), UBND TP.Hồ Chí Minh tổ chức Ngày hội Công dân số TP.Hồ Chí Minh năm 2026 và Lễ phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026, hướng đến Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10.