Khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm từ 01/9/2026?
Căn cứ theo Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, cụ thể như sau:
(1) Dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
(2) Đối tượng, phương thức khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:
- Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy định của pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;
- Tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia.
Trường hợp khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ; trường hợp người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản của người đó; trường hợp người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế;
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi khai thác thông tin của mình thông qua người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ. Việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất tích do người quản lý tài sản của người đó quyết định;
- Tổ chức, cá nhân không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản 2 Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP được khai thác dữ liệu về định danh địa điểm qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin.
Trường hợp có nhu cầu khai thác thông tin khác trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, phải được sự đồng ý của chủ sở hữu, quản lý địa điểm đó.
(3) Dữ liệu định danh địa điểm được quản lý và phân loại như sau:
- Dữ liệu công khai: Bao gồm các dữ liệu được quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, h, i, n, p khoản 2 Điều 5 Nghị định 326/2026/NĐ-CP;
- Dữ liệu không công khai: Bao gồm các dữ liệu được quy định tại điểm g, k, l, m, o, q khoản 2 Điều 5 Nghị định 326/2026/NĐ-CP. Việc khai thác, chia sẻ dữ liệu không công khai phải tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước.
(4) Thủ trưởng cơ quan quản lý định danh địa điểm của Bộ Công an có thẩm quyền cho phép khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

Khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm từ 01/9/2026? Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm ra sao?
Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm ra sao?
Căn cứ theo Điều 5 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu định danh địa điểm sau đây:
(1) Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 326/2026/NĐ-CP.
(2) Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, bao gồm:
- Mã định danh địa điểm;
- Đối tượng định danh địa điểm;
- Địa chỉ của địa điểm;
- Lối tiếp cận;
- Mã bưu chính;
- Thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên);
- Các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có);
- Trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm;
- Tên địa điểm;
- Thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có);
- Thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có);
- Cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức);
- Dấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có);
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có);
- Thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ;
- Các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm
Tại Điều 6 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định rõ về việc thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm:
(1) Dữ liệu về địa chỉ, đất đai, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, nền địa lý và các dữ liệu khác phục vụ định danh địa điểm được thu thập, tạo lập từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và được tổng hợp về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
(2) Các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện rà soát, thu thập, tạo lập dữ liệu về các đối tượng cần định danh địa điểm, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã. Dữ liệu của đối tượng định danh địa điểm được đồng bộ bao gồm tối thiểu các trường thông tin tại điểm b, c, e, m khoản 2 Điều 5 Nghị định 326/2026/NĐ-CP.
(3) Công tác cập nhật và duy trì dữ liệu định danh địa điểm:
- Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc liên quan đến đối tượng được định danh địa điểm có trách nhiệm rà soát, cập nhật thường xuyên, kịp thời dữ liệu thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý ngay khi có biến động và thực hiện đồng bộ, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm;
- Dữ liệu địa điểm phải được điều chỉnh khi các điều kiện khách quan làm thay đổi thông tin của địa điểm, hoặc khi cơ quan quản lý đối tượng được định danh xác định có sai sót về thông tin địa điểm. Thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành liên quan đến địa điểm được tự động cập nhật vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm kịp thời, chính xác;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền phản ánh về các sai sót của dữ liệu thông qua hình thức phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước; cơ quan tiếp nhận phản ánh có trách nhiệm chuyển ngay thông tin đến cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc để kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền;
- Trường hợp dữ liệu về cùng một địa điểm có sự sai lệch giữa các hồ sơ do các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý thì cơ quan được giao quản lý đối tượng, tạo lập cơ sở dữ liệu chuyên ngành về đối tượng theo quy định của pháp luật có trách nhiệm thống nhất điều chỉnh thông tin trước khi cập nhật vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
(4) Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp đã có dữ liệu bản đồ hoặc các hệ thống thông tin liên quan đáp ứng tiêu chuẩn về định danh địa điểm có trách nhiệm chia sẻ, cung cấp cho Bộ Công an để cập nhật, tích hợp vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm nhằm bảo đảm tính kế thừa, tiết kiệm và tránh lãng phí.
=>> Như vậy, dữ liệu về địa chỉ, đất đai, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, nền địa lý và các dữ liệu khác phục vụ định danh địa điểm được thu thập, tạo lập từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và được tổng hợp về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
*Lưu ý: Nghị định 326/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];