Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí của bị cáo dựa trên cơ sở nào?

Nguyễn Hạnh Phương Trâm 10,766 lượt xem
08:10 | 03/06/2023
Tôi muốn hỏi hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí của bị cáo dựa trên cơ sở nào? - câu hỏi của chị An (Hà Nội)
Nội dung chính
  1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa nội dung gì trong bản án sơ thẩm?
  2. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn cho bị cáo về án phí dựa trên cơ sở nào?
  3. Cơ quan nào có thẩm quyền xét xử phúc thẩm?

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa nội dung gì trong bản án sơ thẩm?

Căn cứ theo Điều 375 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Sửa bản án sơ thẩm
1. Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án treo.
Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

- Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;

- Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

- Giảm hình phạt cho bị cáo;

- Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;

- Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;

- Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí của bị cáo dựa trên cơ sở nào?

Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí của bị cáo dựa trên cơ sở nào?

Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn cho bị cáo về án phí dựa trên cơ sở nào?

Căn cứ theo Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào tiểu mục 4 Mục II Công văn 206/TANDTC-PC năm 2022 hướng dẫn như sau:

4. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hơn về phần án phí, áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không đúng. Căn cứ vào quy định nào của pháp luật để Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa các nội dung này?
Mặc dù khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm về án phí, áp dụng tình tiết tăng nặng không đúng. Việc sửa 02 nội dung này nếu có lợi cho bị cáo thì Hội đồng xét xử có thể vận dụng quy định tại Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự về phạm vi xét xử phúc thẩm để sửa 02 nội dung này của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên tại phần quyết định của bản án cần căn cứ cả Điều 345 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Như vậy, không có quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm về án phí có lợi cho bị cáo.

Tuy nhiên căn cứ vào Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hội đồng xét xử phúc thẩm có thể xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị để sửa bản án sơ thẩm về án phí có lợi cho bị cáo.

Tuy nhiên, lưu ý tại phần quyết định của bản án cần căn cứ cả Điều 345 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Cơ quan nào có thẩm quyền xét xử phúc thẩm?

Căn cứ tại Điều 344 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.
2. Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị.
3. Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
4. Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo đó, cơ quan có thẩm quyền xét xử bao gồm:

- Tòa án nhân dân cấp tỉnh

- Tòa án nhân dân cấp cao

- Tòa án quân sự cấp quân khu

- Tòa án quân sự trung ương

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa đi cai nghiện bắt buộc khi nào? Thời hiệu áp dụng biện pháp ra sao?

Bài viết cung cấp quy định về trường hợp, thời hiệu và thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc, theo Luật Phòng chống ma túy 2025 và Pháp lệnh 03/2026/UBTVQH16.

Bài viết mới nhất