Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?

Phạm Hoàng Quốc Đạt 403 lượt xem
01:45 | 08/07/2025
Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?
Nội dung chính
  1. Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?
  2. Lĩnh vực nào được cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn?
  3. Nguyên tắc cho vay của chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp ra sao?
  4. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay hiện nay được quy định ra sao?

Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 55/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 116/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 6 Điều 1 Nghị định 156/2025/NĐ-CP) quy định như sau:

Cơ chế bảo đảm tiền vay
...
2. Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau:
a) Tối đa 300 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình;
b) Tối đa 500 triệu đồng đối với tổ hợp tác, hộ kinh doanh;
c) Tối đa 03 tỷ đồng đối với chủ trang trại;
d) Tối đa 05 tỷ đồng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
...

Như vậy, từ ngày 1/7/2025 thì hộ kinh doanh không có tài sản bảo đảm được tổ chức dụng xem xét cho vay tối đa 500 triệu đồng theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Lưu ý: Nghị định 156/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.

*Trên đây là thông tin về "Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?"

Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025?

Hộ kinh doanh không có tài sản đảm bảo được vay bao nhiêu từ chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp từ 1/7/2025? (Hình từ Internet)

Lĩnh vực nào được cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn?

Căn cứ tại Điều 4 Nghị định 55/2015/NĐ-CP quy định về các lĩnh vực được cho vay phục vụ phát triền nông nghiệp nông thôn gồm:

- Cho vay các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.

- Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ trên địa bàn nông thôn.

- Cho vay để sản xuất giống trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp.

- Cho vay phát triển ngành nghề tại địa bàn nông thôn.

- Cho vay phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

- Cho vay các nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân trên địa bàn nông thôn.

- Cho vay theo các chương trình kinh tế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ.

Nguyên tắc cho vay của chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp ra sao?

Căn cứ tại Điều 5 Nghị định 55/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 156/2025/NĐ-CP) quy định về nguyên tắc cho vay của chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp như sau:

- Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng theo quy định tại Nghị định này. Những nội dung không được quy định trong Nghị định này thì tổ chức tín dụng thực hiện cho vay theo quy định của pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

- Khách hàng được tổ chức tín dụng cho vay không có tài sản bảo đảm theo quy định tại các Điều 9, Điều 14, Điều 15 và Điều 15a Nghị định 55/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 156/2025/NĐ-CP). Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay cao hơn mức vay không có tài sản bảo đảm nêu tại các Điều nêu trên thì phần vay vượt phải thực hiện theo quy định hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Nghĩa vụ trả nợ của bên vay hiện nay được quy định ra sao?

Căn cứ tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

- Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

- Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

- Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

+ Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

+ Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Lưu ý: Nghị định 156/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư 55/2026/TT-NHNN về Hệ thống thông tin giám sát hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô ra sao?

Nội dung Thông tư 55/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 18/2025/TT-NHNN quy định về thu thập, khai thác, chia sẻ thông tin, báo cáo của Hệ thống thông tin phục vụ công tác giảm sát hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô bên dưới.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Nghị quyết 57-NQ/TW nêu quan điểm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính để phát triển nhanh yếu tố nào?

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.