Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao?

Trần Thị Khánh Phương 1,946 lượt xem
16:35 | 18/10/2025
Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao?
Nội dung chính
  1. Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao?
  2. Dự thảo đề xuất quy định về thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ra sao?
  3. Nội dung giáo dục tiểu học phải đáp ứng yêu cầu gì?

Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao?

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư Ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT.

>>> Tải về Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

Theo đó, tại Điều 2 Quy chế kèm theo dự thảo Thông tư quy định về văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân

(1) Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản dưới dạng giấy hoặc dạng số do người có thẩm quyền cấp cho người học theo quy định của Luật Giáo dục 2019, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Giáo dục đại học 2012.

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; bằng trung cấp; bằng trung học nghề, bằng cao đẳng; bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng trình độ tương đương (gọi chung là văn bằng giáo dục đại học).

(2) Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân là văn bản dưới dạng giấy hoặc dạng số do người có thẩm quyền cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.

(3) Cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ là tổ chức, đơn vị, cơ sở giáo dục nơi người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ công tác.

(4) Văn bằng, chứng chỉ giấy; văn bằng, chứng chỉ số

- Văn bằng, chứng chỉ giấy là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng văn bản giấy; văn bằng, chứng chỉ số là văn bằng, chứng chỉ được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- Văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau.

(5) Việc ký, cấp, sử dụng văn bằng, chứng chỉ số và việc cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ thực hiện theo lộ trình chuyển đổi số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

(6) Quy trình cấp lại, chỉnh sửa nội dung, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ số thực hiện như đối với văn bằng, chứng chỉ giấy.

(7) Thông tin trích xuất từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ có giá trị pháp lý như thông tin trong sổ gốc và phụ lục sổ gốc cấp văn bằng, chứng chỉ.

Xem chi tiết thêm tại Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao?

Dự thảo Thông tư về Quy chế văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thay thế Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT ra sao? (Hình từ Internet)

Dự thảo đề xuất quy định về thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ra sao?

Căn cứ theo Điều 4 Dự thảo Quy chế kèm theo Thông tư có nội dung đề xuất quy định về thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như sau:

(1) Thẩm quyền cấp văn bằng thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục 2019, Luật Giáo dục đại học 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014.

(2) Thẩm quyền cấp chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục 2019 và quy định cụ thể của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng hoặc kỳ thi cấp chứng chỉ.

(3) Đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác không quy định cấp chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, thủ trưởng cơ sở giáo dục, thủ trưởng cơ sở tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp quyết định việc cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa học cho người học.

Nội dung giáo dục tiểu học phải đáp ứng yêu cầu gì?

Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 30 Luật Giáo dục 2019 quy định như sau:

Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
1. Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.
2. Yêu cầu về nội dung giáo dục phổ thông ở các cấp học được quy định như sau:
a) Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật;
b) Giáo dục trung học cơ sở củng cố, phát triển nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp;
c) Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.
3. Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục.

Như vậy, nội dung giáo dục tiểu học phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau:

- Phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội;

- Có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội;

- Có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh;

- Có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Giáo dục Xem thêm

Bài viết mới nhất