Đề xuất các giao dịch dân sự không yêu cầu công chứng, xác nhận tình trạng hôn nhân năm 2025 thế nào?
Bộ Công an soạn thảo dự thảo Nghị quyết bỏ thủ tục công chứng, xác định tình trạng hôn nhân trong các giao dịch mua bán đất, phương tiện giao thông đối với các trường hợp đã số hóa, làm sạch dữ liệu (sau đây gọi là dự thảo Nghị quyết).
>>> TẢI VỀ Toàn văn dự thảo Nghị quyết bỏ thủ tục công chứng, xác định tình trạng hôn nhân
Theo đó, tại Điều 4 dự thảo Nghị quyết đề xuất quy trình thực hiện giao dịch dân sự không yêu cầu công chúng, xác nhận tình trạng hôn nhân đối với trường hợp đã có dữ liệu số hóa, xác thực.
Đề xuất các giao dịch dân sự không yêu cầu công chứng, xác nhận tình trạng hôn nhân năm 2025 cụ thể như sau:
(1) Quy trình giao dịch chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Người chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đăng nhập vào Cổng dịch vụ công quốc gia để khai báo thông tin hợp đồng và yêu cầu đăng ký biến động đất đai;
- Xác thực danh tính thông qua VNeID mức 2, đồng thời hệ thống tự động đối chiếu và kiểm tra: nhân thần người thực hiện giao dịch (từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư); Tình trạng hôn nhân (từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử); Quyền sử dụng đất hợp pháp (từ Cơ sở dữ liệu đất đai);
- Hệ thống cung cấp mẫu hợp đồng điện tử có thể ký số hoặc in ra để công dân ký trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận
- Cơ quan đăng ký đất đai tiếp nhận hồ sơ, không yêu cầu bản sao giấy tờ tùy thân, không yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân, trừ trường hợp dữ liệu trên hệ thống chưa đồng bộ, không thể truy xuất đầy đủ hoặc sai lệch thông tin giữa khai báo và dữ liệu hệ thống hoặc có căn cứ cho thấy giao dịch có nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu nại;
- Sau khi hoàn tất đăng ký sang tên, kết quả được trả trực tuyến hoặc trực tiếp theo lựa chọn của người dân.
(2) Quy trình giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho tặng phương tiện giao thông
- Các bên giao dịch đăng nhập vào Cổng Dịch vụ công quốc gia để thực hiện kê khai thông tin hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho phương tiện giao thông;
- Xác thực điện tử thông qua VNelD múc độ 2. Hệ thống sẽ tự động đổi chiếu và kiểm tra: Nhân thân người thực hiện giao dịch (từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư); thông tin đăng ký phương tiện và chủ sở hữu (từ Cơ sở dữ liệu về đăng lý, quản lý xe cơ giới, xe máy chuyên dùng); tình trạng hôn nhân nếu cần xác định tài sản chung (từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch diện tử);
- Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho phương tiện giao thông ký kết trên Cổng Dịch vụ công quốc gia được đính kèm khi chủ sở hữu thực hiện thủ tục Cấp chứng nhận đăng ký xe, biển số xe;
- Cơ quan đăng ký phương tiện giao thông không yêu cầu hợp đồng công chúng, xác nhận tình trạng hôn nhân nếu đã có dữ liệu điện tử.
(3) Xử lý trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ, chưa xác thực
- Trường hợp hệ thống dữ liệu chưa cập nhật tình trạng hôn nhân hoặc quyền sở hữu tài sản, cơ quan tiếp nhận có thể yêu cầu người dân bổ sung giấy tờ có liên quan;
- Hướng dẫn người dân thực hiện cập nhật dữ liệu hộ tịch, định danh hoặc xác thực VNeID mức 2 theo quy định để sử dụng quy trình rút gọn trong các lần giao dịch tiếp theo.
(4) Trách nhiệm lưu trữ và bảo đảm pháp lý
- Hợp đồng và hồ sơ giao dịch được lưu trữ dưới dạng điện tử trong hệ thống thông tin quản lý giao dịch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Các hợp đồng giao dịch được ký điện tử và xác thực bởi Tài khoản định danh điện tử mức độ 2 có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng có công chứng, chứng thực;
- Cơ quan tiếp nhận chịu trách nhiệm lưu trữ đầy đủ nhật ký xử lý, thông tin tra cứu, khai thác phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết tranh chấp hoặc xử lý vi phạm (nếu có).
*Trên đây là "Đề xuất các giao dịch dân sự không yêu cầu công chứng xác nhận tình trạng hôn nhân năm 2025 thế nào?"

Đề xuất các giao dịch dân sự không yêu cầu công chứng xác nhận tình trạng hôn nhân năm 2025 thế nào? (Hình từ Internet)
Đề xuất căn cứ pháp lý và giá trị pháp lý của dữ liệu số hóa, xác thực theo dự thảo Nghị quyết ra sao?
Theo Điều 3 dự thảo Nghị quyết đề xuất căn cứ pháp lý và giá trị pháp lý của dữ liệu số hóa, xác thực như sau:
(1) Dữ liệu thông tin cá nhân, tình trạng hôn nhân, quyền sở hữu tài sản và thông tin liên quan đến công dân được thu thập, số hóa, chuẩn hóa, xác thực và lưu trữ trên các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý, là nguồn dữ liệu chính để xác minh nhân thần, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, số định danh cá nhân của công dân;
- Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử do Bộ Tư pháp quản lý, bao gồm dữ liệu đăng ký kết hôn, ly hôn, khai sinh, khai tử, xác nhận tình trạng hôn nhân;
- Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và hệ thống đăng ký đất đai do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, bao gồm dữ liệu quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được xem là hợp lệ về mặt pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận yêu cầu công chứng hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định riêng:
- Cơ sở dữ liệu về đăng ký, quản lý xe cơ giới, xe máy chuyên dùng do Bộ Công an (Cục Cảnh sát giao thông) quản lý, bao gồm thông tin đăng ký xe, chủ sở hữu phương tiện;
- Hệ thống định danh và xác thực điện tử (VNeID) và các nền tảng xác thực điện tử mức độ cao, đảm bảo tính chính xác, hợp pháp và không thể giả mạo thông tin.
(2) Dữ liệu đã được xác thực, đồng bộ và liên thông giữa các cơ sở dữ liệu nêu tại khoản 1 Điều 3 dự thảo Nghị quyết, khi được truy xuất hợp pháp bởi cơ quan nhà nước, có giá trị thay thể cho việc xuất trình, nộp giấy tờ bản giấy hoặc bản sao có công chứng, chứng thực, cụ thể:
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thay thế bằng dữ liệu xác thực từ cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử hoặc Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư;
- Thông tin về nhân thân, nơi cư trú được truy xuất qua mã số định danh cá nhân hoặc tài khoản định danh điện tử mức độ 2;
- Hợp đồng chuyển nhượng, mua bán, tặng cho tài sản được ký kết qua nền tảng điện tử, có xác thực định danh mức cao và lưu trữ trên hệ thống theo quy định pháp luật, được xem là hợp đồng hợp lệ về mặt pháp lý, không cần chứng thực tại cơ quan công chứng nếu không có yêu cầu riêng:
- Thông tin xác thực tại thời điểm thực hiện giao dịch được coi là căn cứ pháp lý để thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, đăng ký sang tên phương tiện giao thông và các giao dịch khác.
(3) Các cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính khi đã được cấp quyền truy cập, tra cứu dữ liệu theo đúng quy định pháp luật, có trách nhiệm sử dụng dữ liệu điện tử làm căn cứ giải quyết hỗ sơ, không yêu cầu công dân, tổ chức cung cấp lại giấy tờ đã có trên hệ thống hoặc yêu cầu công chứng, chứng thực không cần thiết.
(4) Việc khai thác, sử dụng và chia sẽ dữ liệu điện tử trong thực hiện các giao dịch phải tuận thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm các nguyên tắc:
- Tính đầy đủ, chính xác, đúng thời điểm của thông tin dùng để xác minh;
- Tính bảo mật, an toàn trong quá trình truyền, lưu trữ và xử lý dữ liệu;
- Có hệ thống ghi nhận và truy xuất nhật ký truy cập dữ liệu, phục vụ kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Ai có thẩm quyền cấp giấy xác nhận độc thân?
Căn cứ Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như sau:
Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
2. Quy định tại Khoản 1 Điều này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu.
Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận độc thân.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận độc thân.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];