Công văn 3251/CT-CS về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu ra sao?

Phạm Thị Hồng 1,007 lượt xem
13:50 | 27/05/2026
Ngày 21/5/2026, Cục thuế ban hành Công văn 3251/CT-CS về thuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu.
Nội dung chính
  1. Công văn 3251/CT-CS về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu ra sao?
  2. Công văn 3291/TCS9-NVDTPС về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong hộ kinh doanh ra sao?
  3. Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng trở lên theo Nghị định 144 ra sao?

Công văn 3251/CT-CS về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu ra sao?

Ngày 21/5/2026, Cục thuế ban hành Công văn 3251/CT-CS về thuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu.

TẢI VỀ Công văn 3251/CT-CS năm 2026

Theo đó, Công văn 3251/CT-CS năm 2026 về về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu, cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 3 Điều 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (trừ các trường hợp hướng dẫn Điều 17 Thông tư này) để được khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT đầu vào phải có đủ điều kiện và các thủ tục nêu tại khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 15 Thông tư này, cụ thể như sau:
...
3. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng
a) Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận ủy thác và bên nhận ủy thác phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng cho bên ủy thác. Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và việc thanh toán như trên phải được quy định trong hợp đồng.
....

Căn cứ các quy định trên, thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng.

Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và việc thanh toán như trên phải được quy định trong hợp đồng.

Trường hợp bên xuất khẩu không nhận tiền trực tiếp từ bên nhập khẩu mà nhận từ 01 doanh nghiệp tại Việt Nam (bên không trực tiếp xuất khẩu nhưng nhận tiền hàng xuất khẩu) thì không đáp ứng điều kiện thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

Công văn 3251/CT-CS về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu ra sao?

Công văn 3251/CT-CS về thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoạt động xuất nhập khẩu ra sao? (Hình từ Internet)

Công văn 3291/TCS9-NVDTPС về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong hộ kinh doanh ra sao?

Ngày 13/5/2026 Thuế cơ sở 9 Tỉnh Bắc Ninh đã có Công văn 3291/TCS9-NVDTPС năm 2026 về việc tuyên truyền thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong hộ kinh doanh và minh bach doanh thu.

TẢI VỀ Công văn 3291/TCS9-NVDTPС năm 2026

Theo đó, Công văn 3291/TCS9-NVDTPС năm 2026 về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong hộ kinh doanh, cụ thể như sau:

1. Khuyến khích hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ như:

- Chuyển khoản ngân hàng;

- Thanh toán qua mã QR;

- Ví điện tử;

- Máy POS và các phương thức thanh toán điện tử hợp pháp khác.

2. Việc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt mang lại nhiều lợi ích:

- Minh bạch doanh thu, thuận tiện quản lý kinh doanh;

- Hạn chế rủi ro trong quản lý tiền mặt;

- Hỗ trợ chứng minh chi phí, doanh thu hợp pháp;

- Tạo thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

3. Thực hiện kê khai doanh thu đầy đủ, trung thực; lập và sử dụng hóa đơn điện tử theo đúng quy định hiện hành.

4. Không thực hiện các hành vi:

- Che giấu doanh thu;

- Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; ANG HOA X.. THU cO S TİNI BAC N TINH - Từ chối thanh toán chuyển khoản không đúng quy định; - Thu thêm phụ phí đối với khách hàng thanh toán không dùng tiền mặt hoặc lấy hóa đơn.

Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng trở lên theo Nghị định 144 ra sao?

Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.

Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Nghị định 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

Phạm Thị Hồng
Phạm Thị Hồng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất