Hệ số trượt giá BHXH là gì? Cập nhập toàn bộ hệ số trượt giá BHXH qua các năm mới nhất hiện nay?
Hiện nay, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và các văn bản có liên quan khác chưa có định nghĩa cụ thể về hệ số trượt giá BHXH. Tuy nhiên, từ thực tế có thể thấy hệ số trượt giá BHXH là tên gọi khác của mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập đã đóng BHXH, được hiểu đơn giản là hệ số giúp tạo ra sự cân bằng về giá trị tiền tệ ở thời điểm hiện tại so với thời điểm trước.
Theo đó, hệ số trượt giá BHXH này có ý nghĩa quan trọng trong việc bù đắp lại sự mất giá của đồng tiền. Để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH, mức tiền lương và thu nhập đóng BHXH của người tham gia sẽ được nhân thêm với hệ số trượt giá BHXH.
Dưới đây là toàn bộ hệ số trượt giá bảo hiểm xã hội qua các năm được cập nhật mới nhất theo Công văn 340/BHXH-CSXH năm 2026
Theo Công văn 340/BHXH-CSXH năm 2026, căn cứ hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định 158/2025/NĐ-CP và khoản 2 Điều 10 Nghị định 159/2025/NĐ-CP về công thức xác định hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội (BHXH).
BHXH Việt Nam thông báo hệ số điều chỉnh tiền lương, thu nhập tháng đã đóng BHXH để thực hiện giải quyết và điều chỉnh mức hưởng các chế độ BHXH như sau:
Năm | Hệ số điều chỉnh tiền lương tháng đã đóng BHXH (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định 158/2025/NĐ-CP) | Hệ số điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH (quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 159/2025/NĐ-CP) |
Trước năm 1995 | 5,81 | |
1995 | 4,91 | |
1996 | 4,65 | |
1997 | 4,50 | |
1998 | 4,18 | |
1999 | 4,01 | |
2000 | 4,07 | |
2001 | 4,09 | |
2002 | 3,94 | |
2003 | 3,81 | |
2004 | 3,54 | |
2005 | 3,27 | |
2006 | 3,05 | |
2007 | 2,81 | |
2008 | 2,29 | 2,29 |
2009 | 2,14 | 2,14 |
2010 | 1,96 | 1,96 |
2011 | 1,65 | 1,65 |
2012 | 1,51 | 1,51 |
2013 | 1,42 | 1,42 |
2014 | 1,36 | 1,36 |
2015 | 1,36 | 1,36 |
2016 | 1,32 | 1,32 |
2017 | 1,28 | 1,28 |
2018 | 1,23 | 1,23 |
2019 | 1,20 | 1,20 |
2020 | 1,16 | 1,16 |
2021 | 1,14 | 1,14 |
2022 | 1,11 | 1,11 |
2023 | 1,07 | 1,07 |
2024 | 1,03 | 1,03 |
2025 | 1,00 | 1,00 |
2026 | 1,00 | 1,00 |
Công thức tính hệ số trượt giá BHXH là gì và cách tính chi tiết như thế nào?
Căn cứ theo Điều 16 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định về hệ số điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm và được xác định bằng biểu thức sau:

Trong đó:
- t là năm bất kỳ trong giai đoạn điều chỉnh;
- Hệ số điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của năm t được lấy tròn đến hai chữ số thập phân và mức thấp nhất bằng 1 (một).
- Hệ số điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của các năm trước năm 1995 được lấy bằng hệ số điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của năm 1994.
Trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tính theo gốc so sánh bình quân năm 1994 do Cục Thống kê, Bộ Tài chính cung cấp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định hệ số điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và thực hiện điều chỉnh tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Hệ số trượt giá BHXH là gì? Cập nhập toàn bộ hệ số trượt giá BHXH qua các năm mới nhất hiện nay? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc bảo hiểm xã hội được quy định như thế nào?
Căn cứ tại Điều 5 Luật bảo hiểm xã hội 2024 có quy định về nguyên tắc bảo hiểm xã hội như sau:
(1) Mức hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội; có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2024.
(2) Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện do người tham gia lựa chọn.
(3) Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(4) Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
(5) Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia, người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
(6) Thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để xác định điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng tính theo năm, một năm phải tính đủ 12 tháng. Trường hợp tính mức hưởng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.
(7) Việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];