Đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển vị trí công tác thì có phải thôi làm nhiệm vụ đại biểu không? Quyền miễn nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân là gì?

Nguyễn Hoàng Tuấn Kiệt 52,624 lượt xem
16:47 | 12/06/2026
Một đại biểu hội đồng nhân dân giữ chức vụ địa chính xây dựng xã khi được điều động theo Nghị định 158 chuyển đến xã khác, vậy xin hỏi người đó có bị miễn nhiệm đại biểu hội đồng nhân dân xã theo điều 101 Luật tổ chức chính quyền địa phương không? Nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không còn công tác nhưng vẫn cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì có phải xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân không? Quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân là gì?
Nội dung chính
  1. Đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú tại địa phương thì có phải xin thôi làm đại biểu Hội đồng nhân dân không?
  2. Đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú tại địa phương thì có được tiếp xúc với cử tri nơi mình được bầu cử không?
  3. Quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định ra
  4. sao?

Đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú tại địa phương thì có phải xin thôi làm đại biểu Hội đồng nhân dân không?

Theo khoản 3 Điều 38 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 (có hiệu lực từ ngày 16/06/2025) có quy định:

Tạm đình chỉ, thôi làm nhiệm vụ đại biểu, bãi nhiệm và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân
...
3. Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp xem xét, chấp thuận việc cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân trong các trường hợp sau đây:
a) Đại biểu Hội đồng nhân dân không còn công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu;
b) Theo đề nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân vi lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác.

Như vậy điều kiện ở đây phải là ĐỒNG THỜI không còn công tác và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì mới xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.

Nếu hiện tại chuyển đổi vị trí công tác sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú ở đơn vị đó thì không phải là điều kiện để thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đại biểu đó nếu có thể sắp xếp và hoàn thành công việc của mình thì vẫn có thể tiếp tục làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trước đây, tại khoản 1 Điều 101 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định về thôi làm nhiệm vụ đại biểu, tạm đình chỉ và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân như sau:

"Điều 101. Thôi làm nhiệm vụ đại biểu, tạm đình chỉ và mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không còn công tác và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì phải xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu. Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể đề nghị thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác.
Việc chấp nhận đại biểu Hội đồng nhân dân thôi làm nhiệm vụ đại biểu do Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
2. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi tố bị can thì Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân đó.
Đại biểu Hội đồng nhân dân được trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu và khôi phục các lợi ích hợp pháp khi cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với đại biểu đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật tuyên đại biểu đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Hội đồng nhân dân kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Đại biểu Hội đồng nhân dân đã thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc bị mất quyền đại biểu thì đương nhiên thôi đảm nhiệm các chức vụ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân."

Như vậy điều kiện ở đây phải là ĐỒNG THỜI không còn công tác và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì mới xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu.

Nếu hiện tại chuyển đổi vị trí công tác sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú ở đơn vị đó thì không phải là điều kiện để thôi làm nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đại biểu đó nếu có thể sắp xếp và hoàn thành công việc của mình thì vẫn có thể tiếp tục làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển vị trí công tác thì có phải thôi làm nhiệm vụ đại biểu không?

Đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển vị trí công tác thì có phải thôi làm nhiệm vụ đại biểu không?

Đại biểu Hội đồng nhân dân đã chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn còn cư trú tại địa phương thì có được tiếp xúc với cử tri nơi mình được bầu cử không?

Theo khoản 3 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 có quy định:

Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp Hội đồng nhân dân, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân; trường hợp không tham dự kỳ họp, phiên họp thì phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa kỳ họp, phiên họp. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân không tham dự các kỳ họp liên tục trong 01 năm mà không có lý do chính đáng thì Thường trực Hội đồng nhân dân phải báo cáo Hội đồng nhân dân để bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân đó.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với Hội đồng nhân dân, các cơ quan, tổ chức hữu quan; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.

Như vậy, việc đại biểu chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn cư trú tại địa phương thì vẫn được tiếp tục hoạt động tại đơn vị nơi họ được bầu cử.

Trước đây, theo như quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (khoản này được sửa đổi bởi khoản 27 Điều 2 Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi 2019) có nêu về trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân là phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri như sau:

"Điều 94. Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân
“1. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.”.
2. Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó."

Như vậy, việc đại biểu chuyển sang một đơn vị khác nhưng vẫn cư trú tại địa phương thì vẫn được tiếp tục hoạt động tại đơn vị nơi họ được bầu cử.

Quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định ra

sao?

Quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại khoản 10 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025, cụ thể:

Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Hội đồng nhân dân, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Hội đồng nhân dân nếu không có sự đồng ý của Hội đồng nhân dân hoặc của Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định.

Trước đây, quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 100 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 như sau:

"Điều 100. Quyền miễn trừ của đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Hội đồng nhân dân, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Hội đồng nhân dân nếu không có sự đồng ý của Hội đồng nhân dân hoặc trong thời gian Hội đồng nhân dân không họp, không có sự đồng ý của Thường trực Hội đồng nhân dân.
2. Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định."

Như vậy, đại biểu Hội đồng nhân dân có các quyền miễn trừ nêu trên.

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia tổ chức lớp tập huấn kiểu mẫu ứng dụng AI trong công tác hành chính hỗ trợ chuyển đổi số y tế

Trong hai ngày 23 và 24/9/2026, Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia, Bộ Y tế tổ chức lớp tập huấn kiểu mẫu “Ứng dụng AI trong công tác hành chính hỗ trợ chuyển đổi số y tế”, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho cán bộ, nhân viên, đồng thời hoàn thiện mô hình đào tạo trước khi triển khai các lớp tiếp theo.