Có được miễn hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội do bị đe dọa không?
“Bị đe dọa” được hiểu là hành vi uy hiếp tinh thần, dùng lời nói, cử chỉ làm người khác sợ hãi khiến họ phải tuân theo ý muốn của người đe dọa, thực hiện công việc nào đó một cách không tự nguyện.
Căn cứ Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 xác định tội phạm là chủ thể có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý.
Theo đó, phạm tội do bị đe dọa trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện cấu thành tội phạm cụ thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, yếu tố bị đe dọa được xác định là căn cứ được giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Đồng thời, trong một số trường hợp, dựa vào tính chất hành vi, mức độ thiệt hại và các điều kiện được quy định cụ thể tại Điều 29 Bộ luật hình sự 2015, người phạm tội do bị đe dọa có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong những trường hợp luật định.

Có được miễn hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội do bị đe dọa hay không?
Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định thế nào?
Căn cứ Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự bao gồm:
Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Như vậy, trường hợp người bị đe dọa phạm tội không thuộc trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 như trên.
Tuy nhiên, trường hợp người bị đe dọa phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Khi người phạm tội không còn gây nguy hiểm cho xã hội do chuyển biến của tình hình.
- Khi người phạm tội mức bệnh hiểm nghèo không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
- Khi người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
- Khi người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định thế nào?
Căn cứ Điểm k khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
…
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
…
Đồng thời theo Điểm a khoản 10 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự quy định như sau:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
...
10. “Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức” quy định tại điểm k khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) “Bị người khác đe dọa” là bị người khác dọa trừng phạt nếu làm trái ý họ, tạo cho người phạm tội nỗi lo sợ về một hậu quả có thể xảy ra và để tránh hậu quả đó người phạm tội đã phải thực hiện tội phạm;
[…]
Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hành vi đe dọa, cưỡng bức đối với người phạm tội.
Ví dụ: Lê Tấn Y là chủ nợ, thường xuyên có hành vi hành hung, đe dọa nếu vợ chồng Nguyễn Văn A không trả nợ thay cho bà Đinh Thị K (mẹ đẻ của A) thì sẽ giết vợ chồng A. Ngày 01/8/2025, A cùng một số người đến gặp Y để thương lượng nhưng dẫn đến xô xát, hậu quả Y bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 30%. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, phạm tội do bị đe dọa có thể là căn cứ xem xét giảm trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định như trên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];