Tình tiết phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên được áp dụng như thế nào? Có phải là tình tiết tăng nặng không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 thì hành vi phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó, tại khoản 9 Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP có quy định như sau:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự
...
9. “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự chỉ áp dụng đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội có nhận biết được hay không nhận biết được tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị hại là người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên.
Theo đó, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối ca đã có hướng dẫn chỉ áp dụng tình tiết phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết tăng nặng trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi do lỗi cố ý.
Đồng thời, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội có nhận biết được hay không nhận biết được bị hại là người đủ 70 tuổi trở lên.
>>XEM THÊM: Hướng dẫn tình tiết người phạm tội tự thú theo Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP
>>XEM THÊM: Phân biệt miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự

Tình tiết phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên được áp dụng như thế nào? Có phải là tình tiết tăng nặng không? (Hình từ Internet)
Tình tiết phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết định khung thì có được xem là tình tiết tăng nặng không?
Căn cứ khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định như sau:
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
....
2. Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Theo đó, nếu một tình tiết đã được sử dụng làm tình tiết định khung, để xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội, thì không được tiếp tục sử dụng tình tiết đó để làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Ví dụ, tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật Hình sự 2015 quy định như sau:
Tội bắt cóc con tin
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người khác làm con tin nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 113 và Điều 299 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 04 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm
4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Như vậy, hành vi bắt cóc người đủ 70 tuổi trở lên sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Theo đó, người thực hiện tội bắt cóc đã có hành vi phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên, và đây chính là tình tiết định khung để xác định khung hình phạt theo khoản 2 Điều 301 Bộ luật Hình sự 2015 nêu trên.
Do đó, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án không được xem hành vi phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Có bao nhiêu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự?
Căn cứ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:
- Phạm tội có tổ chức;
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
- Phạm tội có tính chất côn đồ;
- Phạm tội vì động cơ đê hèn;
- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
- Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
- Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];