Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không?

Phạm Thị Thục Quyên 959 lượt xem
13:34 | 06/05/2024
Cho tôi hỏi: Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không? Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có phải trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua phương án củng cố tổ chức và hoạt động không? Câu hỏi của anh B (Bình Thuận).
Nội dung chính
  1. Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không?
  2. Ngân hàng Nhà nước có quyền hạn gì đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt?
  3. Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có phải trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua phương án củng cố tổ chức và hoạt động không?

Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 146 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có quy định về áp dụng kiểm soát đặc biệt cụ thể như sau:

Áp dụng kiểm soát đặc biệt
1. Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán.
2. Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời những trường hợp có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán.
3. Ngân hàng Nhà nước xem xét, đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tổ chức tín dụng lâm vào một trong các trường hợp sau đây:
a) Có nguy cơ mất khả năng chi trả;
b) Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán;
c) Khi số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;
d) Hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
đ) Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 130 của Luật này trong thời hạn một năm liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 4% trong thời hạn 06 tháng liên tục.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước xem xét, đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tổ chức tín dụng lâm vào một trong các trường hợp nêu trên.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước xem xét, đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định.

Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không?

Có áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước không? (Hình từ Internet).

Ngân hàng Nhà nước có quyền hạn gì đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt?

Căn cứ theo quy định tại Điều 149 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có quy định về thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt cụ thể như sau:

Theo quy định nêu trên, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt bao gồm:

- Ngân hàng Nhà nước quyết định xử lý kiến nghị của Ban kiểm soát đặc biệt về quyết định gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc biệt, cho vay đặc biệt hoặc chấm dứt cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng, mua cổ phần của tổ chức tín dụng, thanh lý, thu hồi giấy phép hoạt động của tổ chức tín dụng, tiếp quản, sáp nhập, hợp nhất, mua lại bắt buộc tổ chức tín dụng.

- Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng vốn, xây dựng, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, nếu chủ sở hữu không có khả năng hoặc không thực hiện việc tăng vốn.

- Ngân hàng Nhà nước có quyền trực tiếp hoặc chỉ định tổ chức tín dụng khác góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt trong trường hợp tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khi Ngân hàng Nhà nước xác định số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng đã vượt quá giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất và việc chấm dứt hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có thể gây mất an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có phải trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua phương án củng cố tổ chức và hoạt động không?

Theo quy định tại Điều 150 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có quy định về trách nhiệm của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt như sau:

Trách nhiệm của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm sau đây:
1. Xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua và tổ chức triển khai thực hiện phương án đó;
2. Tiếp tục quản trị, kiểm soát, điều hành hoạt động và bảo đảm an toàn tài sản của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 148 của Luật này;
3. Chấp hành yêu cầu của Ban kiểm soát đặc biệt liên quan đến tổ chức, quản trị, kiểm soát, điều hành tổ chức tín dụng quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều 148 của Luật này;
4. Thực hiện yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước quy định tại Điều 149 của Luật này.

Như vậy, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt có nhiệm vụ xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng trình Ban kiểm soát đặc biệt thông qua và tổ chức triển khai thực hiện phương án đó.

Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Thị Thục Quyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Quyết định 1960/QĐ-TTg về thực hiện chính sách an sinh xã hội hỗ trợ người yếu thế có nội dung nào?

Nội dung Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tộ Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định 1960/QĐ-TTg năm 2026 cụ thể như sau: